Diễn đàn Thanh Niên Xa Mẹ
Trang đầu | TL-Lib | Lý lịch | Thành viên | Mật thư | Đăng ký          

Go Back   Diễn đàn Thanh Niên Xa Mẹ > 2 - Cung văn hóa Xa Mẹ > Văn chương, thi phú
Bí danh
Mật khẩu
Hỏi đáp Thành Viên Lịch Ðánh Dấu Ðã Ðọc


Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 11-12-2005, 11:49 PM   #21
joker25
Khách
 
Bài : n/a
Default

3

Minh đón chú Dĩnh ở sân bay tới nhà đã quá trưa. Nắng chang chang trên sân lúc Minh dựng chiếc xe máy mượn của thím Hoả. Chế Minh có hai bầu vú nhỏ hơi vểnh lên dưới áo cánh. Ngày đầu tiên gặp Minh tôi đã để ý đến hai đầu ngực nhọn săn luôn luôn nhú cao bắt tất cả mọi đàn ông phải chú ý. Hàm Ninh đang vào vụ mắm, giữa những tất bật của vựa cá, tôi vẫn bắt gặp dáng dấp tươi mát thành thị của Minh. Tôi muốn chạy ra đón chú Dĩnh, nhưng mấy hôm nước ròng cá về nhiều thuyền câu cất vó suốt đêm khiến công việc bề bộn. Thím Hoả đang xả nước, phải canh mực nước cho thật chuẩn, dư vài lít cũng tiêu. Vụ trước chỉ đạt 35 độ đạm. Vụ mắm này Minh quyết định ở lại vựa học chưng cất cho được thứ nước mắm đã mất hẳn trên đảo từ sau 30 tháng 4. Minh có mặt ở đây làm tôi hăng hái. Chính tôi cũng không biết tự bao giờ mình nảy ra cái ý định tìm lại muỗng nước mắm đã uống trong chuồng Cọp. Chỉ một muỗng nước mắm nguyên chất thôi đã nuôi tôi sống sót bấy nhiêu năm tù. Thêm Minh, tôi quyết chí tới cùng tìm lại muỗng nước mắm này. Bây giờ nước mắm đang là nước muối, nhưng tôi phải trả lại cho mảnh đất tuy giam giữ mình nhưng cũng đã nuôi tôi gần trọn đời người. Không nói ra nhưng tôi biết Minh hiểu. Người đàn bà này có khí lực dồn ẩn trong da thịt mà lần gặp đầu tiên tôi đã biết chỉ một phụ nữ mạnh mẽ thể xác mới gom được vào trong mình tất cả thiên nhiên của hải đảo.

Căn chòi của chế Minh theo yêu cầu của chế tôi cho cất sau chòi của chú Dĩnh dù chế đã có căn buồng riêng trong nhà. Chẳng hiểu vì sao Minh cứ khăng khăng cho gọi chú Dĩnh ra Phú Quốc. Cái thứ trai ăn chơi học đòi như Dĩnh thì đất nước này đâu thiếu. Ban đầu tôi cố ý cản, nhưng dần dần hiểu ra giữa chế Minh và chú Dĩnh có mối quan hệ sâu đậm hơn tình chị em kết nghĩa. Đến mức nào thì tôi chưa rõ. Dĩnh đeo theo Minh như hình với bóng. Cặp môi dầy của chú ưa cười nhạo báng, đôi khi ra vẻ bất cần, chỉ là hình thức bề ngoài của lũ trai thành phố. Tôi đã quá cái tuổi bồng bột để hiểu Dĩnh mê Minh, nhưng những năm tháng tù đày thiếu tiếp xúc với đàn bà khiến tôi chưa hiểu vì sao Minh không ngăn cản mà còn tỏ vẻ khuyến khích.

Hai tuần sau khi chú Dĩnh tới vựa, chủ nhật đầu tháng chúng tôi lấy xuồng đi An Thới. Tôi vẫn biết Minh ưa dạo bãi sớm, hóng thứ nắng không quá gay gắt nhưng trong lành của biển cả. Tôi muốn chỉ cho Minh xem những khúc biển hồng tươi vì lúc nhúc tép. Cái đất này là đất tiền, đất bạc, chỉ cần thả vó là có thể cất lên từng tấn cá, tấn mực với tôm, thậm chí bào ngư cũng không thiếu, vậy mà dân đảo nghèo xơ xác. Tôi muốn nói với Minh, cái thời tôi nằm tù, biệt giam một ngày một muỗng nước mắm vậy mà tôi cũng trông thấy qua chấn song sắt sự trù phú của cư dân. Còn bây giờ… Phải chăng ngư dân đã đánh mất cái muỗng nước mắm huyền diệu ấy và trôi theo cùng với nó tất cả trù mật lúc trước?

"Nước mắm nhĩ Phú Quốc khi xưa có tiếng, bây giờ cạnh tranh không lại nước mắm Phan Thiết, Hải Hậu".

"Vì sao hả pá?"

"Vì trên chai ghi 55 độ đạm nhưng thật ra là độ muối, độ đường, có phải là độ nước mắm đâu. Muốn làm nước mắm ngon phải chưng cất tỉ mỉ rồi đóng thùng gỗ vàng tâm, thứ gỗ đóng quan tài lúc xưa, để đúng 19 tháng mới bắt đầu dùng được. Đó là nước mắm thường, chưa nói loại ngon, bây giờ chúng đong chai bán gấp từ 6 đến 7 tháng đã bán, làm vụ nào hốt vụ đó chẳng còn nghĩ gì đến truyền thống với danh tiếng. Trách sao cho bằng nước mắm Thái Lan. Rồi thì suốt ngày lo pha chế xuất khẩu, giống như cha mẹ đem con ra đánh bóng cái mẽ ngoài để gả chồng cho sớm."

"Sao họ không đợi đúng 19 tháng?"

"Đợi sao nổi, lũ chúng bây giờ hám bạc quá mà. Vay tiền nhà băng, giá cả thị trường thì trồi sụt, luật lệ bất nhất, đợi 19 tháng trả lãi sao cho xuể. Có hai loại người làm nước mắm, loại làm gian, làm nhiều bán liền, hốt sao cho nhiều tiền hết vụ này sang vụ khác bán một triệu chai nước mắm mặn như nước muối vẫn có hời hơn bán một trăm ngàn chai ủ đàng hoàng."

"Còn loại hai?"

Tôi sẽ muốn chế Minh quay lại hỏi tôi như lúc trước, cho tôi trông thấy gương mặt chế sáng láng dưới nắng còn tươi. Tôi muốn tiếp tục câu chuyện bỏ dở từ khi chú Dĩnh tới Hàm Ninh. Những bận trước đi bãi, tôi với chế bàn nhau tới lui cách nào chưng cất cho thành nước mắm thật sự, thứ nước mắm nhĩ có một không hai trên cõi đời này. Về ý nghĩa của nước mắm đối với ngư dân, vì sao lại đánh mất, làm sao tìm lại? Tôi chỉ là tay ngang nhưng tôi tin tình yêu của Minh sẽ giúp mình mãn nguyện. Những lần trước tôi cùng với Minh rong xuồng trong sự đồng điệu của hai tâm hồn gần gụi, lần này trong im lặng. Ban sáng tôi đã để ý thấy chú Dĩnh không muốn đi, nhưng Minh nài Dĩnh bằng được. Rồi suốt quãng biển động xuồng gối sóng, chú Dĩnh ói mấy trận, đến khi nước yên chú mới nằm được một lúc, với tròng mắt đầy bực bội.

Chú Dĩnh nãy giờ không động đậy, lên tiếng đòi coi san hô. Tôi quành cho xuồng vô mạn giếng Vua. Tiếng máy xuồng kêu đì đạch giống tiếng kêu của cá chình. Xuồng nhấp nhô một lúc rồi vào khoẳm biển trong, những lượn nước tăm tắp dập dềnh. Giá không có cái đầu của chú Dĩnh, tôi đã có thể ngắm chiếc lưng nhỏ của Minh. Cái lưng thắt như lưng cá ở khúc đuôi, phẳng, láng và đỏ rám những khi Minh phơi nắng. Tôi vẫn hay ngắm hai đầu vú Minh khi ngủ. Bầu vú Minh nhọïn, bầu bĩnh như trái mận. Tôi chậc lưỡi. Chú Dĩnh hình như nghe thấy, nhổ toẹt bãi nước miếng xuống biển:

"Tắp vô chỗ này nè."

"Chú muốn coi san hô thì lặn xuống đi."

Tôi trả lời. Không muốn gây hấn làm gì.

Không đợi tắt máy, chú Dĩnh đã cởi áo ngoài lao thẳng, bắn tưới nước lên mặt mũi, tóc tai Minh. Chân chú Dĩnh loi ngoi hai giây rồi mất biệt. Nắng rươm trên mặt nước, quãng này thường có sứa. Tôi nói, biết Minh đang nhìn mình. Tôi làm bộ tìm bầy sứa nhưng vẫn liếc thấy Minh đang chau mắt. Minh có nét mềm mại của loài cá. Tôi vẫn nghĩ thân thể Minh săn như cá nục nhưng cũng mềm như cá bống. Nhiều lần Minh tắm xong nằm phơi dưới nắng, da đỏ au lấm tấm cát, tôi không đừng được quệt ngón tay một đường dài dọc bắp đùi Minh. Đưa ngón tay vào miệng cũng mằn mặn chẳng khác lớp muối tôi thường rải lên mình cá. Minh không biết Minh trông ngon lành hấp dẫn y một chú cá đã lớn vừa kịp cho một vụ nước mắm. Ở Minh đẹp nhất ngoài đầu vú là gáy cổ lộ ra tươi nức, sáng hồng như con bông diêu dưới nước. Chỉ nội hình ảnh này đủ làm tôi không ân hận, chịu đựng cái nhìn trách cứ của Minh. Buổi tối hôm chú Dĩnh mới tới Hàm Ninh, Minh ngồi chiên cá, tôi đi lựa muối ở chợ về bất thần ngó vô ai ngờ bắt gặp thằng Dĩnh đang âu yếm vén từng lọn tóc của Minh, mắt nó xoáy vào cần cổ ấy thiếu điều muốn cắn đứt. Buổi tối khi nó đã bỏ lên căn chòi, và Minh say ngủ, tôi cầm kéo bước tới bên giường Minh cắt xoén những sợi tóc mà lâu nay tôi sẵn sàng dội từng gáo bồ kết cho Minh gội. Minh hờn, mấy đêm không ngủ trong nhà, lên ở miệt trên đồi.

Tự dưng tôi muốn tắt máy cho xuồng trôi luôn ra ngoài biển, chỉ với Minh và một mình tôi trong khoang. Chế Minh chưa biết, cái loại người làm nước mắm thứ hai là loại chi li trong ý nghĩ, loại có thể ngậm ngụm nước mắm đặc trong miệng cả ngày trời không phun ra không nuốt vào cho tới lúc chất cá tự động ngấm vào nướu răng, vào thực quản. Và tôi cần một người đàn bà yêu chất cá ấy, nhưng không thể nói với Minh khi trong nhà còn có Dĩnh, khi Minh tỏ ra nuông chìu và đáp ứng những trò chơi của Dĩnh. Buổi tối chú Dĩnh hay gạ gẫm Minh lên chòi nghe chú đàn hát. Tôi không hiểu Minh làm gì trên đó, chỉ nghe tiếng đàn chú Dĩnh vọng hằng giờ rồi im bặt và đến tảng sáng Minh mới trở xuống chòi của mình.

4

Năm giờ chiều pá Hổi sửa soạn đèn khí, dao, cả nước uống. Dĩnh tỏ ra thông thạo, chỉ lên nềøn trời đã có một con trăng vàng tươi, nói với tôi là pá tính đi câu mực đêm. Tôi lắc đầu:

"Dĩnh lầm, pá cần gì mực."

Chỉ có tôi hiểu pá. Chú Hoả thuyền chài chuyên cung cấp cá cho nhà thùng Tân Hưng Thành sáng sớm đã qua báo tin, đêm nay thuyền sẽ ra đến tận đất Miên may ra mới lưới được loại cá bông diêu chỉ trồi lên mặt biển lúc mùa trăng. Pá Hổi nghe tin nao nức hoạch định chuyến đi, Pá đợi chờ cơ hội từ nhiều bữa. Cá cơm, cá mực, cá mú, pá đã thử hết nhưng vẫn chưa hài lòng. Những giọt nước mắm pá rút ra từ bao lớp cá vẫn chưa đủ vị ngọt thơm, chưa ủ được cái chất sống của hòn đảo đã chứa chấp gia phả pá, nơi pá đã lớn lên, lặn ngụp rồi tù đày. Tàu, Miên, Việt không cần biết, quê hương phải chính là ở nơi cho mình cái chất sống đang mang trong người. Nghe pá Hổi giảng giải tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú, vì pá nói nước mắm thì phải là nước mắm Việt Nam, còn cái hồn Việt Nam thì phải là nước mắm. Lần này pá Hổi muốn cất nước mắm với cá bông diêu săn chắc, chưa nhà thùng nào ở đây dám thử vì vốn quá cao và thịt cá diêu lâu rã. Tôi định cùng theo thuyền đi lưới, xem bầy cá bơi lội buổi tối, xem cách ném vó giữa khuya và ngắm mặt biển rập rình những đôi mắt. Trời ơi thời nhỏ tôi đã sớm mê những con mắt biển lấp lánh như trân châu tận đáy sâu, tôi tin tinh tú mọc dưới biển hay là biển cũng có mắt, mãi sau này tôi mới hiểu chỉ là ánh sao khuya chớp muộn màng rồi tan biến. Lớn rồi tôi cũng khám phá không chỉ có ánh mắt mê hoặc mình mà còn những thứ khác phàm tục hơn nữa.

Dĩnh là cái thứ ấy. Suốt trưa trải chiếu nằm trên những rễ rừng Dĩnh hôn tôi suốt gáy không chừa một chân tóc. Dĩnh khen tôi ngoan biết cắt tóc ngắn cho nó cắn lỗ tai. Nghe Dĩnh tán tỉnh, tôi lại nhớ đến buổi tối pá Hổi xén tóc mình, càng nghĩ càng giận. Giận pá nên tôi đưa mình cho Dĩnh làm gì tôi cũng ưng. Dĩnh còn trẻ ham lau lách, mà thanh niên có khác không bao giờ thấy đủ, suốt buổi quần nhau vậy mà còn kỳ kèo rủ rê đi bãi đêm.

"Tắm biển đêm, thênh thang mát mà không ai ngó."

Dĩnh đưa hàm răng trắng rởn cười. Miệng nói "tắm" mà rõ ràng là mắt nó nghĩ tới chuyện khác. Ở rừng xuống, hai bầu ngực tôi còn phừng lửa nên khi nghe pá Hổi gọi đi lưới bên Miên, tôi chần chừ. Nửa ham theo mà nửa muốn chạy đuổi ngã sấp với Dĩnh trên bãi cát khuya. Thật ra, nếu pá Hổi nài nỉ chắc tôi cũng sẽ xuống thuyền. Tính tôi dễ xiêu lòng trước mặt đàn ông. Hình như pá cũng nhận ra lúc đó tôi không mấy bình thường nên chẳng o ép. Pá lẳng lặng lạnh lùng kêu chú Hoả nhổ neo, rồi thuyền rời khỏi con kênh đào mất tích. Pá Hổi đi rồi tôi mới chưng hửng khám phá vết răng Dĩnh còn in ở bắp tay mình, đỏ bầm.

Pá Hổi đi lưới hai ngày. Suốt hai ngày chị Minh lui cui trước bồn nước mắm. Tôi không biết chị nhìn gì dưới đáy bồn mà cúi sững trên váng nước mắm vàng ong. Có khi chị đứng từ trưa đến xế chiều, dưới nắng loá. Làm như chị Minh đang kiếm vật gì dưới đáy sâu đầy xác cá. Pá Hổi thiệt kỳ lạ, miệng nói gìn giữ bản sắc mà trong thực tế pá làm ăn y hệt mọi người, cũng sản xuất đại trà, chẳng phải vậy mà nhà Tân Hưng Thành giàu lên trông thấy?

"Cần yêu nghề, yêu người tiêu dùng và kẻ tiêu dùng cũng phải yêu giọt nước mắm khổ hạnh người khác làm ra thì mới xuất hiện trở lại nước mắm đích thực của Hàm Ninh."

Tôi muốn nhổ toẹt bãi nước miếng xuống bồn xi-măng đang sủi tăm lăn tăn như bày cá hãy còn quẫy, còn bơi lội bên dưới. Những điều pá Hổi thường xuyên thuyết giảng với chị Minh chỉ là câu chuyện lấy lòng một người đàn bà. Tình yêu nước mắm? Tôi đã trông thấy ánh mắt pá ngó trâng tráo hai bầu vú chị Minh để hở buổi trưa ngoài giếng Vua. Để rồi xem pá có làm ra thứ nước mắm thật của Hàm Ninh hay không, hay chỉ để tìm cách giữ chị Minh ở lại đảo? Mà dù cho pá có tìm ra tôi cũng sẽ trút muối vô bồn cho mặn chát cái thứ tình yêu vụ lợi của một lão Tàu.

Chị Minh có cái eo nhỏ, nhìn muốn ôm. Tôi đến đứng sau lưng dợm quơ tay rờ mông chị nhưng mùi cá khắm xông lên đến chóng mặt. Tôi định bụng sẽ lại rủ chị đi tắm khuya như hôm qua, nhưng không hiểu có phải vì tôi nghĩ ngợi miên man đến cảnh đuổi bắt thân thể huyền diệu của chị trong sóng nước hay sao mà từ dưới đáy bồn bỗng vọng lên tiếng cười rúc rích. Hình ảnh hai chị em đèo nhau đi bãi Sao loang loáng trên mặt nước. Tôi thấy lại chiếc xe chảy dầu nhèm nhẹp của pá Hổi, mỗi lần nhảy dựng lao xuống hố cát là chị Minh lại dúi ngực vào lưng tôi kêu:

"Từ từ! Dĩnh!"

"Từ từ! Dĩnh!" Cảm giác êm ái sống trở lại. Tôi mê ngực chị Minh một, mê cái giọng thắng nước đường của chị gấp đôi. Nhất là mấy lúc tôi thúc chị liên tục, chị đưa tay chống lồng ngực tôi đổ ập xuống:

"Từ từ! Dĩnh!"

"Từ từ! Dĩnh!" Tôi khoan khoái thích thú nằm ngửa ra bãi rau lang tím mọc xen kẽ trên cát. Trăng khuya phết ánh xanh thạch nhũ biêng biếc giống trong chuyện cổ tích. Tôi chợt muốn cưới chị Minh làm vợ, nhốt trong căn nhà ba má tôi mới xây bốn tấm. Ổng bả có cửa hiệu điện lạnh và một tiệm Karaoké cao cấp, thế nào tôi cũng hưởng một trong hai thứ. Tôi còn sức trai, đủ sức thoả mãn chị Minh hai chục năm nữa.

"Dĩnh nghĩ gì vậy?"

"Dĩnh yêu chị bằng cái biển này. Chừng nào chị cho cưới? "

Tôi trỏ xuống mặt biển ánh thạch, đánh bạo hỏi điều mình mơ ước. Chị Minh cười khúc khích, ngặt nghẽo. Rồi chị cười rũ rượi đến chảy nước mắt. Hai má chị râm rấp. Tôi lóng ngóng.

"Chị yêu Dĩnh không?"

Chị Minh vụt im bặt. Gương mặt chị tự dưng bất động phủ một cái gì xa xôi khác hẳn mọi lần sau ân ái chị hay lấy tay vuốt má tát yêu tôi vài cái. Gió khuya đang làm làn lụa phẩy lên da thịt chị Minh lênh thênh cũng chết lặng. Tôi đâm hoảng:

"Chị đang nghĩ gì? Có Dĩnh trong đầu chị không?"

"Có cá Dĩnh!"

Chị Minh chụp tay làm tôi giựt mình. Trăng trên bãi tắt ngấm, tan rụt vào trong váng nước thâm xịt. Mùi mắm lại bốc lên hôi thối nồng nặc làm tôi lợm giọng. Trên mặt bồn bọt bong bóng nổi lên cùng khắp. Tôi cố kềm chị Minh đương mất bình tĩnh:

"Xác cá ốc-xy hoá đó."

"Không phải! Cá còn sống chị mới trông thấy!"

Chị Minh bấu cứng lấy cánh tay tôi muốn bật máu, bắt lội xuống. Tôi không ưa chút nào song để chị yên tâm tôi cúi nhìn sát mặt váng. Dưới tận đáy bồn âm u loáng nhoáng những con mắt cá chết đuối lờ đờ.

Dường như trên hải đảo này chỉ có hai mùa: mùa nắng và mùa cá. Nắng phủ trên những sọt cá và mùi nước mắm trùm lên nắng, rút cục còn lại có một mùa. Mùa cá. Mùa cá đối với tôi cũng là mùa tình. Khi tôi trở về vựa trời chưa tỏ sáng, còn chếch sau ngọn đồi con trăng quá rằm thả ánh vàng lạt lên đám mái tôn nghiêng xuôi của xóm chài. Vào tới sân, tôi đụng ngay mảnh màn xanh phất phơ. Chế Minh thích để cửa sổ mở tung trong đêm tối, ban ngày kỳ lạ chế luôn đóng chặt. Tôi đứng lặng một lúc dưới chân gốc xoài, óp bụng phình ngực hít thật sâu, tìm sự ngầy ngật như đứa trai mới quen mùi đàn bà. Không còn hơi khắm mặn, không còn cả mùi tanh cá biển, không có gì át được hương lài đang toát ra từ sau tấm màn xanh. Tôi chẳng thể nào bình thản. Hẳn nhiên Minh đang nằm trên tấm nệm mỏng trải lớp sa-tanh màu hồng ngọc tôi đã kỳ công đặït mua từ đất liền. Hẳn nhiên Minh để thân trần, bao giờ cũng chỉ cái quần lót nhỏ xíu không che đủ mông. Hẳn nhiên tôi cũng biết mình có thể nhẹ nhàng mở cửa, đi vào, đặt tay lên làn da vừa ấm vừa man mát. Bàn tay tôi sẽ nằm im không động đậy hay sẽ bôi một chút dầu vào lưng Minh rồi nhẹ nhàng xoa nắn, lần từ cần cổ xuống sợi dây kìm manh quần lót. Minh nằm im vờ say ngủ rồi sẽ vờ trở mình, lật ngửa, không một lời, không mở mắt, tìm năm ngón tay tôi dụi vào lõm bụng. Rồi lại như mọi lần, tôi run rẩy mà tê liệt, ngón tay cắm sào ở đó chẳng chuyển dịch, không cựa quậy để yên cho Minh điều khiển. Minh sẽ thả năm ngón tay tôi như thả một bụm lưỡi câu vào cuống họng của loài cá chình. Miệng cá sẽ nuốt lấy cổ tay tôi rồi chế sẽ gấc lên mấy tiếng thở ngắn. Và tôi sẽ cắm đầu ra khỏi căn buồng, leo vội các nấc thang trèo lên đầu thùng mắm chúc mặt vào đó dìm tất cả nỗi bất lực vào chất nước mặn oan nghiệt. Hai con mắt tôi sẽ không trốn thoát nổi hình ảnh dưới đáy thùng, Minh nằm sáng rực trên lớp muối, vẩy bạc thật nhuyễn, hai bàn chân xoè cong lên tươi rói. Tôi sẽ chúc mặt vào đó cho đến khi cơ thể báo hiêïu có những di chứng của chuồng Cọp mà đàn ông không sao phục hồi, hoài công vô ích.
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 11-12-2005, 11:51 PM   #22
joker25
Khách
 
Bài : n/a
Default

5

Cơn giông vừa ngừng pá Hổi đã leo xe đi với chú Hoả lên xã Dương Tơ mua cây tràm về dựng chòi che thêm vựa muối. Không khí oi bức càng làm nực nồng mùi cá chết. Tôi cũng là một con cá ươn từ sớm hôm qua. Pá Hổi đi rồi Dĩnh cũng không xuống, ở lì trên chòi suốt buổi sáng đến giờ, tôi biết nó vừa giận vừa buồn. Nhưng mặc, tôi cần được một mình, nỗi bực bội lẫn rã rời càng chương phình theo thời tiết một cơn giông chưa nổ đã. Chạy qua nhà thím Hỏa, chiếc xe máy của thím dựng bên rào, tôi nói với vào chỗ thím đang ngồi rửa chén hỏi mượn rồi xách xe đi ngay, chẳng đợi trả lời. Bỗng dưng tôi hối hả muốn sang Dương Đông, lên Dinh Cậu trước lúc mặt trời lặn. Lâu rồi tôi không nhìn hoàng hôn một mình trên biển, chưa dìm mình vào giữa mảng lửa rừng rực của thủy triều. Hôm đầu tiên đến đảo, pá Hổi đã háo hức kéo tôi leo những bực đá trơn trượt sau cơn mưa, dắt lên mỏm dinh này để chỉ cho biết đâu là xóm chài Cửa Cạn, chỗ nào dân phá rừng phòng hộ, chỗ nào ngoại quốc bây giờ tới chiếm cứ và quây biển nuôi ngọc trai. Đâu là các vựa nước mắm lớn ở Dương Đông. Vựa của pá Hổi thì nhỏ chút và cái tên Tân Hưng Thành pá phải ăn cắp của công ty Hưng Thành nổi tiếng. Ở Phú Quốc, những nhà thùng khác đều sản xuất quy mô. Pá Hổi chắc lưỡi kêu mình không làm nước mắm đại trà cho bọn đất liền. Có lần Dĩnh nghe pá Hổi tự xưng là nghiên cứu nước mắm, nhếch miệng cười ngạo: "Hai ba cái thùng chẳng giống ai, mấy vựa khác người ta là cả một cơ ngơi, cái gì cũng công nghệ hóa máy móc làm hết. Ai như pá còn tính chứa nước mắm trong chĩnh đất quốc hồn quốc túy. Mà quốc tuý Việt Nam chứ có phải Ba Tàu đâu mà ham."

Tôi từng nghĩ khác. Đã chứng kiến pá Hổi tay cầm ống cao su chảy từ đáy thùng lên ngửi, nếm, chấm mút thất thần, rồi ngẩn người im lìm suốt mấy ngày, phải yêu mảnh đất này lắm pá mới dốc sức đến vậy. Thật ra, vẫn có lắm thứ tôi mù mờ, người đàn ông lực lưỡng này quá lạ lùng tuy không hẳn bốc đồng giống Dĩnh. Như sáng hôm qua, trời chưa kịp rựng tôi còn mơ màng thì pá Hổi vô buồng, quần xà lỏn nhểu nước khắp tấm nệm. Những giọt nước đánh thức tôi, như một chú cá bừng tỉnh. Cả tấm thân cường tráng sững trước mắt khi tôi vặn ngửa mình quay lại. Bắp thịt đó, màu da đó ẩn hiện trong tâm trí tôi như thân thể một ngư nhân rình rập mà tôi là chú cá đợi lưới. Giữa tranh tối tranh sáng, mùi muối ẩm ở nách pá đã giựt căng thần kinh, làm mọi tế bào xúc giác trong thể xác tôi nhảy rựng rần rật tanh tách, hơn cả mớ tép tươi vừa xúc lên khỏi nước. Trì cánh tay pá tôi ghịt xuống. Pá không chống cự, buông bỏ, qụy ụp úp mặt xuống ngực tôi, lầm bầm những câu gấp rút. Tôi chợt nghe vị mặn, vị bùi của miếng cá đầu tiên chan nước mắm do pá cất hôm nào lọt xuống cuống lưỡi ngọt ngào. Nhưng chưa kịp nuốt sâu vào cổ thì miếng cá đã bị lôi tuột ra ngoài. Pá Hổi bất thần rút đầu, đứng bật dậy chụp cái áo máng trên kèo thảy lên người tôi, nói như ra lệnh: ‘’Mình ra biển.’’

Gió trên Dinh Cậu quấn rít những sợi tóc tôi đã mọc dài trở lại, khô cứng như sát muối khi tôi cột túm bằng sợi dây thun. Tôi cố đợi cho tới khi mặt trời phết vàng nền nước. Tuy vậy những bực dọc do trăm ngàn duyên cớ vẫn dồn lên. Tôi thực không hiểu nổi pá Hổi. Con mắt dù có khi làm bộ lơ là nhưng làm sao che giấu được những mê muội lúc nhìn tôi. Ai lạ gì cú đá chân bực dọc giận cá chém thớt của pá vào con chó đang thiu ngủ trên sân mỗi khi nháng thấy Dĩnh vừa huýt sáo vừa sùng sục đưa tay thọc sâu trong quần kỳ cọ bên lu nước mưa. Mỗi chiều mặt mày Dĩnh trâng trâng tươi tỉnh tắm rửa sau khi chở tôi đi bãi trở về. Tôi cũng tắm cho hết đất cát lẫn những đầu lưỡi của Dĩnh nhớp nháp. Xối gầu nước, tôi hay mỉm cười đắc thắng đã làm pá ghen tức. Có người đàn bà nào không kiêu hãnh khi khám phá quyền hạn của mình? Vậy mà pá luôn luôn giựt mình dừng lại đúng lúc, đúng nơi, như thể đã leo hết đỉnh núi rồi ngó xuống triền dốc bên kia là thấy sợ hãi. Như thể dưới đó ẩn giấu đầy hầm chông nguy hiểm của chiến cuộc nào chưa tàn dù đã xa xôi vẫn còn hiện diện và để lại những vết thẹo. Tôi ngờ pá bị ám ảnh bởi những năm tháng tù đày và những người đàn bà chưa kịp thoả mãn.

Khi bên Dương Đông giông bão thì phía Hàm Ninh biển lặng. Tôi học được điều đó ở pá Hổi. Buổi sáng pá lóng ngóng ngồi thu lu trên bãi, nắng sớm đang lên vậy mà cái dáng ấy là một hòn đá buồn thiu cô quạnh. Sau lưng là cả một hòn đảo xanh rì trù phú nhưng pá Hổi than van nó đang bị sói mòn tàn phá, không phải do biển mà do con người cùng cái xã hội cơ hội, giả tạo, chẳng khác nước mắm pha thêm bột ngọt, từ bên kia tràn sang. Xã hội bên kia, tôi ngao ngán nghĩ tới Dực. Lại trực nhớ miếng bánh cuốn Thanh Trì chấm vào thứ nước đục lờ sền sệt ở Hà Nội, một hôm nào Dực tự hào giới thiệu của ngon truyền thống của quê mình. Tôi chống đũa ngẩn ngơ, quay sang hỏi Dực về thứ văn hoá mì chính. Dực ngượng nghịu cười. Cái cười tự mãn khi xưa không còn, từ lâu rồi nó cũng nhạt như màu nước chấm bềnh bệch trước mặt.

Không cự nổi dáng ngồi nặng nề của pá Hổi nữa, tôi vốc cát ném vào mặt pá. Lúc đầu người đàn ông im lìm chịu trận, rồi bỗng vùng dậy tung người vào nước, hai cánh tay vồng bắp thịt chụp lấy hông tôi, nhấc bổng lên gọn lỏn. Pá thẩy tôi nằm sấp trên cát, một tay ghì hai cánh tay tôi quặt ấp lên mông, tay kia tóm một chân bóp mạnh, nhào nặn từ mắt cá lên tới bắp đùi. Năm ngón thôi mà như năm đầu kìm xiết nát da thịt. Thật lạ lùng tôi chẳng thấy đau đớn, không cả tức tối trước sự vũ phu bất ngờ mà thốn lên cảm giác bừng bừng nộn nạo. Rõ ràng pá đang hành hạ mà tôi sung sướng. Tôi còn muốn được pá dìm đầu xuống nước, được pá nghiền nát tan tành thành cát, được ghìm chặt dưới sức đè của pá Hổi thật lâu. Tôi muốn pá mài tôi kỹ lưỡng cho mềm thành muối biển. Nhưng trong khi tôi cắn răng ngóng đợi rình rập cái đau thắt buốt phóng sâu vào ngõ thẳm tối tăm của thịt da mình thì chợt tất cả sức ghì xiết ấy bung ra như sợi dây trói thình lình cắt đứt. Tôi hụt hẫng ngỏng cổ lên, người đàn ông quỳ bên cạnh đang lom lom nhìn suốt đáy lưng mình. Nhìn thật sát như pá muốn soi vào tận ruột gan tôi. Rồi như nhiều lần đã thế, pá Hổi lấy ngón tay trỏ quệt dài một lằn theo đường xương sống, ngừng lại ở phần tôi nhạy cảm nhứt, nhấn nhẹ một đốt rồi chậm rãi đưa vào miệng. Cặp môi khép chặt quanh ngón tay, hai con mắt pá nhắm lại giống như pá đã thoát ra thế giới nào khác, đã lặn xuống đại dương mịt mùng trước mặt. Cơn giận bỗng hộc lên cổ, tôi nhổm dậy, nắm lấy lọn vai chắc nịch tựa đòn gỗ trắc đánh vẹc-ni nâu bóng của pá, tôi lay tôi lắc với hết sức bình sinh, hỏi giật giọng pá đang làm gì, nghĩ gì, nhìn thấy gì? Có nhìn ra tôi đang chờ đợi trước mặt? Pá Hổi mở mắt, ngơ ngác, nhưng cứ để mặc tôi lên cơn đồng bóng, cho tới lúc tự dưng tôi mệt lả thả người rớt xuống nền cát. Sóng lăn tăn mấp mênh tắp lên má, tôi cảm giác những làn cát đang quất ran rát. Chung quanh nước chênh chao, gương mặt tôi ngang với gương mặt biển. Tôi đã hoá thành biển? Tôi còn nhìn thấy những lọn tóc vừa mọc dài của mình trôi dềnh trên nước, nhìn thấy hai tròng mắt pá Hổi trên mặt sóng lao xao nhưng trong chúng không hề lay động chiếc bóng mảnh của mình, chỉ xếp lớp những vẩy bạc lấp lánh kỳï lạ.

Tôi lượm quần lót ướt sũng mặc vào thân thể mình đột nhiên khô ráo. Chưa khi nào bụng tôi nứt nẻ khô như buổi sáng này ở vũng Bầu, làm như Dĩnh đã chắt hết nước trong thân thể tôi không còn rỉ ra được giọt nào nữa cho pá Hổi. Vũng Bầu? Tự dưng tôi cười lạt, làm sao tôi có bầu với người đàn ông này? Đường về tôi với pá không ai nói một câu. Tới sân, Dĩnh đang lóng ngóng đợi. Nó nhìn chòng chọc vào cái áo thun còn ướt dính bết trên mình tôi. Tôi biết nó lại muốn nhai mình như nhai cá, nhưng Dĩnh cũng không mở miệng, giơ chân đá mấy vỏ dừa khô lăn long lóc xuống con kênh. Pá Hổi đi thẳng vô nhà lấy túi thuốc rê ra hiên lầm lì ngồi vấn. Tôi bỏ vào buồng, kéo tấm màn xanh. Chừng không đủ, tôi khoành tay khép chặt hai cánh cửa. Cơn giông đang chuyển hướng từ Dương Đông sang mạn bên này. Bầu trời đã chập mây, đứng gió.

Trưa tới, pá Hổi gõ cộc cộc mời ra ăn cơm, tôi kêu no, mùi cá sặc khô nướng trên than bữa nay làm tôi lợm giọng. Chiều xuống, Dĩnh cào cào ngoài cánh cửa rủ đi bãi, tôi không trả lời. Nó lớn tiếng gọi, tôi gắt muốn nằm yên. Đến gần sáng, sấm nổ ùng ục rung chuyển mái tôn, gió chầu chực suốt ngày trên đồi tràn xuống như thác. Gió hú đập rầm rập nhưng pá Hổi chẳng biết ở đâu không thấy thức dậy lật đật ra gom những miếng mọp, rũ bạt che thêm vựa muối như mọi lần. Muốn chạy ra xem nhưng thân thể nặng nề, đầu óc uể oải, tôi lại cuốn người quay mặt vào vách, thiếp đi. Tiếng chân bỗng vang lên nện thình thịch chung quanh chỗ tôi nằm, những thớt lưng đàn ông trần trụi chờn vờn giữa ánh sáng vàng lạt từ mái tôn rớt xuống. Không nhìn thấy mặt họ nhưng tôi nhận ra ngay bả vai bè bóng lưỡng của pá Hổi, miếng lưng thuôn chắc khi thót xuống eo của thằng Dĩnh, cả hai màu da cùng vàng quánh như màu nước mắm. Còn tấm lưng lợt lạt thiếu nắng mà luôn rịn mồ hôi đó là của Dực, chẳng thể nào khác. Ba người đàn ông không ngó ngàng đến tôi nhưng họ cứ xà quần quanh chiếc giường, chao nghiêng xuống mặt đệm. Không ai cất tiếng nói nhưng tôi biết mỗi người đang âm mưu tính toán. Tôi muốn kêu họ ra ngoài đi, hãy để tôi yên nhưng cổ họng bị thắt cứng. Tôi co chân tính đứng dậy mà chẳng cách nào cục cựa, cho đến khi đòn sà ngay trên đầu giường lung lay, răng rắc răng rắc sắp gẫy. Tôi muốn la lên kêu cứu thì nó đã rớt rầm xuống kéo theo mấy mảng tôn tung bụi. Giựt mình thức tỉnh, tôi tê liệt trong tiếng đập cửa hung bạo của Dĩnh "Chị Minh! Chị Minh!" Nó đòi mở cửa cho vô, tôi cứng người nằm im. Dĩnh ngừng, lắng nghe rồi lại đập dồn dập liên tiếp, sau cùng nó tống chân đạp rầm rầm như trời sắp sập, tôi phải nhỏm dậy lê ra kéo chốt cửa. Dĩnh xông vào, toang mùi rượu. Nó đẩy ập tôi ngã ngửa, tôi giơ tay đá chân xô đẩy, nhưng tôi biết mình chẳng thế nào đương cự nổi sức trai cường tráng. Chẳng ngờ Dĩnh không lột quần áo, nó chồm lên dùng hai chân ngáng đùi tôi, tay ghì vai ấn xuống nệm. Đầu, vai, bụng, cả thân thể nó rung chuyển. Tay vừa dày vò, miệng không ngừng hét như mê sảng:

"Nói yêu Dĩnh! Chị Minh nói yêu Dĩnh!’’

Trong ánh sáng nhờ nhờ của căn buồng tôi thấy lòng mắt Dĩnh nẩy những tia dữ dằn mà lại van lơn, đục ngàu thèm muốn mà nặng trĩu. Tôi bẹp dí. Dĩnh chụp hai bên mảng đầu tôi ép vào nhau, tôi hự một tiếng kêu đau đớn, nó bỏ tay ra để đè mạnh lên ngực, lại gào:

"Nói yêu Dĩnh! Chị phải nói yêu Dĩnh! Yêu trong cái đầu này, con tim này chứ không phải chỉ cho chui giữa hai đùi. Nói! Mau! Nói!’’

"Nói!"Dĩnh bóp cổ tôi hũng hãn, thiếu điều muốn ngất. Trời ơi, thằng Dĩnh bây giờ trớ trêu đòi tôi phải yêu nó bằng trái tim bằng đầu óc bằng giọt máu. Tôi ngây mặt ngó Dĩnh. Gương mặt nó căng bạnh, đỏ bầm. Nó cũng chợt sững người, bất động, nhìn suốt vào mắt tôi, khẩn khoản. Tôi nghẹn cổ, muốn tắt thở. Nhưng tôi quả quyết lắc đầu rồi nhắm nghiền mắt. Tôi chờ đợi Dĩnh đánh đập cuồng bạo đâm xé mình ra hành hạ cho tới sáng, nhưng chỉ vài phút sau, cánh cửa căn buồng chợt đóng đánh sập rồi bước chân Dĩnh nặng nề cùng tiếng khạc nhổ thất thường của pá Hổi ngoài sân.

Bảy giờ chiều, trước Dinh Cậu mặt trời đỏ máu bắn ra những tia vàng cam cháy nhoá cả một vùng vô biên trước mặt. Nước biển giờ dâng lên trộn lẫn vào chân trời, giống trộn với lửa nhảy múa khúc xạ lân quang rực rỡ. Thật xứng đáng với lời đồn không nơi nào hoàng hôn đẹp bằng ở Phú Quốc. Nhưng màu sắc kia càng lộng lẫy bao nhiêu, gan ruột tôi càng lạt lẽo tiêu điều bấy nhiêu. Tôi như cá chết chỉ phơi nắng chiều nên không đủ sức nóng trở thành con khô săn mẳn. Lúc nãy tôi vội vàng chạy xe lên đây, cứ tưởng khung cảnh này sẽ phá tan được nỗi âm u chán nản. Vậy mà hào quang huy hoàng có thật của thiên nhiên chỉ làm tôi càng nhận rõ hơn cái nhỏ nhoi nhàm nhạt, cái lãng mạn và ảo tưởng cụt hẫng của chính mình.

Một nửa mặt trời đã chìm trong màn nước, mới ngày nào tôi đặt chân lên đây tóc xoã cuối lưng, đứng ngắm hoàng hôn trải lên bờ đất Dương Đông và ruốm thắm những tảng đá xói mòn. Nắng cuối ngày vàng rức cánh tay vạm vỡ của pá Hổi khiến tôi cắn môi xao động. Buổi chiều ấy pá kéo tay tôi kêu hãy ngó xuống mặt nước dưới chân Dinh Cậu này, từng đàn cá sẽ ấp tới trong sóng bạc. Tôi đâm yêu cá theo pá Hổi từ đó. Đã có đôi lần nằm ngửa trong biển tôi cũng khùng điên nghĩ mình là cá, rồi trở vô bãi tôi ngỏng đầu co chân, thót cho bụng và lưng cong cứng, tưởng tượng những lớp muối xám đục xúc đổ lên, và bao nhiêu ngày tháng sau, từ đáy bụng tôi sẽ rỉ ra dòng nước nâu óng ngọt đậm mặn mòi.

Trên Dinh Cậu này dân chài Phú Quốc thường lên cúng vái trước khi giong thuyền đi lưới. Pá Hổi có lần lôi tôi cùng Dĩnh đem rượu cá tôm cua, làm lễ tam sinh ở chính mỏm đá tôi đang đứng. Bữa đó pá Hổi mặc bộ đồ đen cài nút Tàu trịnh trọng. Trong khi pá khấn khứa, đổ rượu xuống biển, xoã tóc, tay chân khuỳnh lên cầu đảo, Dĩnh lăng quăng bên tôi, mấy ngón tay tìm kẽ hở giữa tà áo. Nó nhếch miệng: "Ổng mặc đồ Ba Tàu, lầm rầm đọc kinh Mên, nhưng không phải để cầu đi lưới được nhiều cá bông diêu, ổng chỉ hám bắt được chị bỏ vô vựa muối cất thành nước mắm Việt Nam chính cống". Tôi nhớ lúc ấy tôi lườm Dĩnh nhưng trong bụng cứ tủm tỉm cười. Nhưng đã là chuyện cũ.

Thằng Dĩnh, nói cho cùng, đáng được hưởng tình yêu ngọt ngào dù nó lắm tật khật khùng nhưng vẫn là đứa trai hồn nhiên bộc trực. Nó mê tôi trên thể xác thì được, nhưng làm sao đòi hỏi linh hồn. Nó tưởng rằng yêu dễ lắm sao? Làm thế nào tôi chỉnh nổi những mong muốn, mê mỏi của mình theo tần số của tên thanh niên tưng tửng ăn bám ba má, cho dù nó có tài làm tôi thoả mãn bất cứ lúc nào. Mấy đêm này thao thức nằm ngó tấm màn xanh lay động vật vờ, tôi lao đao ngao ngán. Không cố ý, nhưng cuối cùng tôi đã thả mình trong một trò chơi, kéo Dĩnh ra đây ngoài phủ dụ thân xác còn để làm cuộc tay ba khêu khích pá Hổi, người đàn ông đã quyến rũ tôi chẳng ngờ dưới dáng vẻ bạt mạng cử chỉ lời nói ngông nghênh, khác hẳn với Dực giả dối, càng ngày càng mềm xèo càng thấp xuống nô lệ. Khi khám phá ra di chứng của pá Hổi tôi không hẳn quá buồn, chỉ thất vọng nhói lòng như đã từng với Dực. Mấy ngày nay những lời Dĩnh phê phán pá Hổi thường xuyên vọng lại. Giống như một khi thân thể đã chối từ thì trí não cũng từ chối. Tôi chợt nhận chân những rao giảng hô hào bảo vệ truyền thống đích thực, không bán rẻ di sản mà pá Hổi liên tục rót vào tai mình, chỉ là chiếc áo thầy tu choàng khoác bên ngoài để che giấu cái nghèo nàn, khập khiễng tâm hồn. Tách khỏi đời sống giả tạo phù phiếm với Dực ở đất liền, gặp pá Hổi tôi tưởng mình sẽ được ngậm trong miệng, được nuốt vào bụng muỗng nước mắm nguyên tuyền của Hàm Ninh. Nhưng muỗng nước mắm tinh chất ấy, thực ra cho đến giờ chỉ hiện ra trong trí tưởng của pá.

Biển bây giờ đã hoá thành tím, mặt nước phủ trùm bao nhiêu mảng lưới sáng bạc càng lúc càng lung linh. Dưới chân tôi, từng đàn cá đang tâm tấp bơi theo nhau, những hạt trân châu thời nào tôi mê mệt đang chớp lóe mời gọi dưới sâu đại dương. Ngồi bệt xuống tảng đá trơn ướt, ló đầu ra nghiêng người chúc sâu hơn nữa, hơn nữa, tôi muốn nhìn chúng thật rõ ràng muốn giơ tay vúc lên những con mắt cá trong sáng chỉ có trong biển cả. Vậy mà lâu nay tôi đi tìm trong đáy muối.

6

Tôi nghĩ nắng đang đâm hai con mắt nhưng không động đậy. Tôi không hiểu vì sao mình nằm trơ trơ trên mặt đất trong lúc cơ thể hiện hình rõ ràng từng đườøng nét ở trên trời. Tôi ngó từng tảng mây đương thả neo trên cái nền biển lật ngược. Sóng lấp lánh vẩy cá giữa những cụm mây thắt lại bung ra y thân hình cong lượn của chị Minh. Tôi giống đang bơi giữa thủy tinh bể vụn đuổi theo chị. Tôi không nhớ đã trút bao nhiêu Ken nhưng đầu nhức, óc não vữa tan. Cả hải đảo không nằm yên nhưng nhúc nhích bềnh bồng. Tôi nhớ chị Minh cũng ít khi nằm yên, chị hay cựa quậy, mà rõ ràng là chị đang trôi trên cao.

Lúc tôi đứng được dậy, mùi rác phựt xông vào mũi.

"Rửng sáng đã uống nước mắm. Chế Minh đâu?"

Tôi gọi pá Hổi. Tấm lưng của pá to bè đương lui cui trên miệng bồn xi măng. Tiếng gọi của tôi vang vang giữa vựa.

"Chế Minh đâu?"

Tôi hỏi lần nữa, nghe tiếng kêu của mình cất cao rồi rớt giữa những sàng ráù. Chỉ có tiếng hắt hơi của xác cá chết thối sình trả lời. Thớt lưng nhẵn bóng của pá Hổi lom lom gườm gườm. Tôi đến sát cái mặt nước khắm rờn rợn. Trên mặt nước đen nhoãng, hai vồng cánh tay pá quơ quào khuấy tung như sắp nổi điên. Lớp sóng nâu mật sóng sánh lao xao làm như có tiếng của ai đó thở hổn hển chìm dưới nước. Tôi mở trợn mắt khám phá đang trôi dềnh mấy lọn tóc.

Tôi bỏ chạy xuống bếp thím Hoả đang ngồi bóc lạc lạnh tanh.

"Chế Minh đâu?"

Mấy con dao phay mắc trên giá sáng loá. Tôi nhìn mụ Tàu đang nhăn răng cười. Tôi trở ra sân. Tấm lưng lão Chệt tươi tốt chắc nịch hiện rõ mồn một. Hai vồng cánh tay của lão vẫn khuấy tứ tung, tóc lão ướt rịt cuốn thành lọn như mấy con trùng đang chui vào bồn mắm. Tôi bước một bước. Gương mặt chị Minh tươi tắn. Tôi bước hai bước. Đầu vú chị tươi mởn. Màng tang tôi nhát búa đập hộp sọ muốn nứt. Con dao phay cứ hiện ra chờn vờn. Tôi ngó mấy ngón tay mình vươn ra muốn chộp lấy cán nhưng chỉ có khoảng không trước mắt. Mấy ngón tay tôi níu chặt cái gì đó trống rỗng. Ngoài cổng chú Hoả đương xếp lưới. Tôi bước thêm bước nữa đến sát cái tấm lưng bóng mỡ. Hai con mắt cá trắng đục sáng bừng giữa vựa.

PHÙNG KHÁNH MINH

tháng 11-2004
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 11-12-2005, 11:53 PM   #23
joker25
Khách
 
Bài : n/a
Default

phỏng vấn

Đỗ Hoàng Diệu

Bản năng nhà văn trong xã hội đồng phục

Hợp Lưu: Tuy mới xuất hiện gần đây, bút hiệu Đỗ Hoàng Diệu đã gây nhiều chú ý, đặc biệt với truyện ngắn Bóng đè trên HL78. Vì sao trưởng thành và làm việc tại Hà Nội, cô đã chọn một diễn đàn văn chương ngoài nước vẫn hãy còn bị tịch thâu ở các cửa khẩu hải quan làm nơi thử bút và khởi đầu nghiệp văn?



Đỗ Hoàng Diệu: Tôi có một người bạn mà anh ta làm cán bộ cao cấp trong chính quyền hẳn hoi, anh ta nói với tôi cứ mỗi buổi chiều, sau khi tan sở hoà mình vào phố phường đông đúc của Hà Nội, anh lại thấy cô đơn, lạc lõng khủng khiếp. Và có lúc cô đơn đến cùng cực, anh ta đã tìm đến cái chết. Tôi nói với bạn mình: Tôi cũng chẳng hơn gì anh. Tôi đang cảm thấy bơ vơ, trống trải, hoang mang giữa 81 triệu dân, giữa đường phố Hà Nội ngập những khuôn mặt người, lạc lõng giữa bao gốc sấu đã quá đỗi thân quen với ngàn lần qua lại. Và rất có thể, một lúc nào đó, tôi cũng như bạn mình sẽ tự giải quyết để thoát khỏi cái thế giới quen thuộc nhưng xa lạ này, nếu tôi không còn khả năng vượt thoát. Trước tiên là vượt thoát chính mình, sau đấy là vượt thoát đầm lầy. Với tôi, việc gửi truyện ngắn đến tập san Hợp Lưu, là một ao ước muốn vượt thoát chính mình. Nhưng xin đừng cho rằng, cái mà tôi gọi là sự vượt thoát hàm nghĩa tôi muốn ra khỏi Việt Nam, đến sinh sống ở một đất nước khác. Nếu muốn, tôi đã đi từ lâu và ra đi đàng hoàng với nhiều cơ hội. Có ra đi, tôi sẽ chỉ ra đi vì người tôi yêu thương.

Còn việc tôi chọn Hợp Lưu chứ không phải một diễn đàn khác để ao ước sự vượt thoát, dường như là số phận. Số phận đã làm truyện ngắn của tôi bị từ chối in ấn, xuất bản trong nước mà có lẽ thứ số phận trước tiên là do tôi đã viết rất thật, không dối trá chính mình. Rồi số phận đã cho tôi gặp gỡ, thân quen một vài người sống bên ngoài, yêu mến văn nghệ, yêu mến Hợp Lưu đã giới thiệu tạp san này với tôi. Và số phận đã mách bảo, khi tôi đọc Hợp Lưu, mình phải gửi truyện ngắn đến đấy. Tôi không quan tâm đến chuyện Hợp Lưu vẫn còn bị tịch thu ở cửa khẩu hải quan, tôi chỉ nghĩ đây là một tập san văn chương đích thực. Nhưng cũng chính vì số phận ấy, bây giờ một số bạn bè xa lánh tôi. "Cẩn thận, nó dính đến hải ngoại". Họ truyền tai nhau như thế. Tôi thấy thương họ.



HL: Tốt nghiệp luật, rồi sống và làm việc giữa thủ đô Hà Nội, theo dõi sinh hoạt báo chí, cô đánh giá chung các tập san văn chương trong nước ra sao? Có sự khác biệt nào giữa trong với ngoài? Hiện nay người đọc bắt gặp rất thường xuyên những tên tuổi Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phan Bá Thọ, Lynh Bacardi, Phước An, Nguyễn Quốc Chánh, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Viện, Nguyễn Việt Hà, Lý Đợi, Bùi Chát, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Vy Thùy Linh, Phương Lan, Thúy Hằng, Hoàng Long, Phan Huyền Thư, Vương Huy, Như Huy, Ngô Tự Lập, Trần Tiễn Cao Đăng, Trần Thùy Mai, Inrasara, v.v.. trên các tập san và website ngoài nước. Cô giải thích thế nào về hiện tượng này, mà cô là một trong những tác giả đã vượt cầu?



ĐHD: Khi còn là học sinh rồi sinh viên, cái thời Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, sau nữa là Phan Thị Vàng Anh bắt đầu "tung chưởng" trên văn đàn, tôi thường nghiến ngấu những tờ báo, tạp chí không sót một dòng. Đến nỗi tôi phải nhịn quà sáng để có tiền đặt mua báo Văn Nghệ những năm nhà văn Nguyên Ngọc làm tổng biên tập. Nhưng bây giờ, khi đã đi làm, đã không cần phải nhịn quà sáng vẫn có thể mua được không chỉ mình báo Văn Nghệ, mà còn Văn Nghệ Trẻ, Nhà Văn, Văn Nghệ Quân Đội, Văn Nghệ TPHCM, Người Hà Nội, Sông Hương, Cửa Việt… tôi lại không đặt mua bất kỳ một loại báo, tạp chí văn chương nào nữa. Khi có thời gian rảnh, tôi thường liếc chúng trong thư viện. Hoặc thi thoảng, ai đó gọi điện thoại mách tờ này, tờ nọ vừa có truyện A, bài B hay lắm, tôi lại lượn xe máy ra phố mua đúng số báo ấy. Nhưng rồi đọc xong, thấy người gọi điện thoại "mách" mình đã quá lời. Cũng có đôi ba lần "ngây ngấy sốt" vì mấy bài tranh luận đánh nhau, chửi nhau, nhưng rồi cũng vèo qua trí nhớ như cơn gió. Còn sáng tác, tôi thường đọc xong truyện mà không nhớ tên nhân vật, chẳng có hình tượng nào đọng lại. Có lẽ trí nhớ của tôi quá tồi! Tôi thường chậc lưỡi một mình: Đã xa rồi ơi Nguyễn Huy Thiệp, ơi Bảo Ninh, ơi Phạm Thị Hoài, ơi Vàng Anh…

Còn sự khác biệt nào giữa các tập san văn chương trong nước và ngoài nước? Có lẽ phải để các nhà nghiên cứu phê bình đánh giá. Riêng tôi, chân đất mắt toét, không dùng kính lúp cũng thấy một điều. Đó là các tập san ngoài nước sẵn lòng đón nhận những tác giả từ bên trong, trong khi các tập san trong nước rất dè dặt với các tác giả bên ngoài. Cho tới bây giờ, loáng thoáng cũng chỉ thấy Nguyễn Văn Thọ, Lê Minh Hà, Phạm Hải Anh... xuất hiện với tần số thớt thưa cùng những truyện ngắn thực sự hiền lành với bút pháp chẳng khác gì truyện bên trong. Tôi băn khoăn không hiểu nhà văn bên ngoài không thèm gửi sáng tác về hay bên trong đóng cửa, từ chối khéo? Nhưng đấy không phải là điều ghê gớm gì. Cái tôi cảm nhận sâu sắc là tập san văn chương bên ngoài rất nghiêm túc, biết tôn trọng cái mới, cái hay. Tôi cũng biết tập san bên ngoài không có nhà nước nào bỏ tiền ra bao cấp, phải tự mình chèo chống giữa khốn đốn tài chính. Nhưng sao họ vẫn xuôi dòng với những con thuyền mang tên Hợp Lưu, Văn Học, Thơ, Tiền Vệ... vững chãi? Chỉ có thể nói do nhiệt huyết với văn chương và sự tự do được viết, được nói những gì họ muốn.

Và khi những con thuyền Hợp Lưu, Văn Học, Thơ quyến rũ như vậy, cớ gì các hành khách Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phan Bá Thọ, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Viện, Lý Đợi, Hoàng Long lại không leo lên ngồi chung để cùng Khánh Trường, Mai Ninh, Trần Vũ, Cao Xuân Huy, Đỗ Kh, Khế Iêm, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Nguyễn Thị Thanh Bình... làm cuộc rong chơi trong biển hồ văn chương? Đấy là tôi lan man thế, chứ ai biết được trong đầu Hồng Minh, Phan Bá Thọ, Nguyễn Viện nghĩ gì khi vượt cầu. Có sai xin đừng mắng mỏ! Và tôi, dù biết mình chỉ là một hành khách bé tiù tẹo, chưa biết bò, nhưng cũng cố ẩy mình mon men đến chiếc thuyền. Bởi tôi biết, chủ những con thuyền sẽ tôn trọng sáng tác của mình.



HL: Thời gian sắp đến, khi có tác phẩm in thành sách, Đỗ Hoàng Diệu sẽ nạp đơn vào Hội Nhà Văn như các thế hệ nhà văn đi trước? Có phải ở Việt Nam mỗi nhà văn bắt buộc phải vào hội để có chỗ đứng chính thức? Vào Hội Nhà Văn hôm nay có còn là một vinh dự cho người cầm bút? Một nhà văn có cần độc lập với các đoàn thể, hội đoàn, đảng phái?



ĐHD: Hỏi đến lạ! Tôi đang tập lẩy, còn chưa biết bò, đã biết viết đâu mà nghĩ đến chuyện của người già! Hợp Lưu hỏi lạ nữa! Một truyện ngắn cũng chẳng in cho tôi, ai dám in cho tôi cả cuốn sách? Người ta bảo tôi phải viết gọn gàng, sạch sẽ, xinh xắn, ấm áp thì mới in được. Người ta đọc bản thảo mà cứ như đo đếm vòng eo để chọn hoa hậu không bằng! Ngay cả Tình Chuột, có đụng chạm nào đâu, người ta cũng bắt tôi phải rút ra khỏi tập truyện tôi định xuất bản. Thế thì làm sao mà tôi vào Hội Nhà Văn được? Thôi, cứ thế này để được đi thi hoa hậu dài dài. Nhưng nói thật nhé, giả dụ khi tôi về già, ai đó khùng điên mời tôi vào Hội Nhà Văn, tôi cũng không vào đâu. Vì tôi không có tiền nộp hội phí mỗi năm và khi chết tôi cũng không cần ai đọc điếu văn kính thưa kính gửi! Đấy là còn chưa nói đến chuyện, chẳng may Nguyễn Huy Thiệp lại xếp tôi vào trong đa số các nhà văn Việt Nam "vô học", lưu manh thì bố mẹ tôi sẽ uất hận bao nhiêu năm thắt bụng cho con ăn học. Còn đàn ông cũng chẳng ai dám cưới tôi làm vợ, ai mà chịu được vợ lưu manh?

Tôi hỏi nhé, Nguyễn Mộng Giác, Phan Huy Đường, Mai Ninh có phải hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam không? Mà ở trong nước, giới văn nghệ biết các anh chị và đánh giá cao tài năng các anh chị? Tài năng và nhiệt huyết sáng tạo sẽ dựng nên chỗ đứng, vinh dự cho các nhà văn chứ không phải hội đoàn nào. Tất nhiên là tôi trừ ra kiểu nhà văn tự tìm cách lăng xê mình để nổi tiếng. Có thể họ nổi tiếng nhưng họ sẽ không có chỗ đứng đáng tôn trọng.



HL: Sau 4 truyện ngắn đã công bố trên Hợp Lưu, ấn tượng đập vào mắt người đọc trước nhất là tính chất nhục cảm tràn lấp trong các sáng tác của Đỗ Hoàng Diệu. Trong bất kỳ truyện nào, nhân vật nữ cũng khát khao tình dục, ham muốn và tự tìm kiếm thoả mãn. Cô có thể trình bầy quan điểm sáng tác của mình trên vấn đề này? Vì sao Đỗ Hoàng Diệu khắc hoạ chi tiết những đòi hỏi của cơ thể? Tính dục có thực sự không thể thiếu trong văn chương?



ĐHD: Thực sự khi cầm bút viết, tôi không có ý định xây dựng nhân vật trong truyện là những cô gái khát khao tình dục, ham muốn và tự tìm kiếm thoả mãn. Cũng không ngờ truyện của mình lại tràn lấp nhục cảm khi đến tay người đọc. Nghe nhiều người nhận xét, tôi ngồi cả đêm đọc lại 4 truyện đã công bố trên Hợp Lưu, và thấy "chẳng có gì". So với thực trạng cuộc sống, những gì tôi viết quá kín đáo và nhẹ nhàng. Nếu tôi xem một bộ phim mà nhân vật chỉ toàn đàn ông hoặc đàn bà, tôi thường bỏ nửa chừng. Đọc sách cũng vậy. Tôi thấy xấu hổ, nhưng thành thật khai báo một điều, tôi đã lấy hết can đảm để đọc Chuông Nguyện Hồn Ai của Hemingway 4 lần, song lần nào cũng thất bại. Đến gần hai chục trang mà chưa thấy đàn ông đàn bà ở đâu, tôi đành bỏ cuộc. Mọi người nói kiên nhẫn, sẽ thấy yêu đương nồng nàn. Tôi chẳng thể nào kiên nhẫn. Nhưng tôi cũng không thích Kim Bình Mai, Hồng Lâu Mộng hay Quỳnh Dao, dù trong ấy đâu đâu cũng là trai gái. Những chuyện tình lãng mạn, thơ mộng, nhạt nhoà, đúng như người ta thường nói: tình yêu tiểu thuyết.

Tôi muốn dịu dàng nhưng dữ dội. Tình yêu thật và văn chương thật. Những câu văn run rẩy mang trong mình hơi thở mãnh liệt, khi mơn man rồi gấp gáp, mỗi nhịp văn tựa một tiếng rên phát ra không phải từ cuống họng mà từ da thịt, từ nỗi đam mê. Tôi muốn mọi người thấy nỗi đau của thể xác và tâm hồn khi yêu, không phải chỉ hoa hồng và những nụ hôn lướt nhẹ lên môi cùng lời thề thốt. Trong vô thức, tôi viết, và nhục cảm đã tràn lấp từng câu chữ mà tôi không biết để kịp ngăn lại. Khi tỉnh ra, tôi biết có thể mình hơi quá, nhưng chẳng nhẽ tôi phải thuê một người ngồi bên cạnh lúc tôi viết, để người ta nhắc tôi không được đam mê? Vả lại, tôi đâu miêu tả cảnh làm tình, tôi muốn chặt đôi con rắn lục - ông giáo sư khi ông ta xanh nhớt trườn tới mấy cô sinh viên ngây thơ trên nền gạch hoa màu sắc dối trá, tôi muốn cấu xéo vào nỗi đau rách toác của cô gái trong Những Sợi Tóc Màu Tang Lễ. Với Cô Gái Điếm và 5 Người Đàn Ông, tôi muốn thiếu nữ dùng mọi thủ thuật để xuyên thủng trái tim từng người đàn ông hèn kém không dám sống thật với bản thân mình chứ không phải xuyên thủng cơ quan sinh dục của anh ta.

Mỗi con người dù muốn hay không, tự bản thân đã mang dục tính. Anh là người đồng tính luyến ái, nhà văn khai thác đời sống đồng tính. Nhưng làm sao để mọi người biết anh đồng tính? Tất nhiên nhà văn phải miêu tả anh làm tình thế nào. Anh là người bất lực, nhà văn có quyền miêu tả dương vật anh không thể nào căng cứng khi gần đàn bà. Anh khoẻ mạnh và anh yêu vợ mình, điều ấy quá tuyệt, nhà văn sẽ cho ta thấy mỗi đêm chiếc giường ướt đẫm những giọt thoả mãn. Giọt yêu đương, giọt hạnh phúc. Đời sống tình dục của anh không tốt, đến cơ quan anh như kẻ mất hồn, công việc chẳng được như ý, ban đêm anh nằm lạnh tanh bên vợ. Nhà văn sẽ mô tả sự lạnh tanh của cơ thể... Suy cho cùng, tình dục là sự sống, tựa hơi thở con người. Lẽ nào văn chương lại sống mà không thở? Và mỗi nhà văn có một cách thở riêng. Tôi thích thở sâu từng hơi rồi hắt ra khoái lạc chừng nào trái tim tôi còn đập. Trong hơi thở tôi chứa đựng cả niềm vui và sự bất hạnh của cuộc sống chính tôi và quanh tôi.
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 11-12-2005, 11:54 PM   #24
joker25
Khách
 
Bài : n/a
Default

HL: Như vậy Đỗ Hoàng Diệu đã chọn con đường của Anais Nin, Vệ Tuệ, Florence Dugas, Shansa, Christine Falkenland, Susan Minot,.. những nhà văn nữ chuyên trị tình dục? Nhiều nhà văn trong nước khi trả lời phỏng vấn thường nhắc đến sự bùng nổ của tiểu thuyết Trung Hoa. Ảnh hưởng của Vệ Tuệ, Cửu Đan, Miên Miên đối với cô?



ĐHD: Cách đây một năm, khi tôi đang bắt đầu viết một cuốn tiểu thuyết mà tôi tạm đặt tên là Điên Tình mà tôi đã viết được 82 trang, và đã viết xong Tình Chuột, một anh bạn hoạ sĩ nói chuyện phone với tôi "Anh vừa mới đọc xong cuốn sách của một văn sĩ Trung Quốc, cô có tính cách giống nhân vật trong ấy. Cô ra hiệu sách mua ngay Điên Cuồng Như Vệ Tuệ về mà đọc." Đọc xong Vệ Tuệ, tôi ngưng ngay việc viết tiếp tiểu thuyết Điên Tình, bởi tôi biết, nhiều người sẽ cho rằng tôi bắt chước cô nhà văn Trung Hoa đang nổi danh này. Và cho đến bây giờ, tôi vẫn đang loay hoay tìm một cốt truyện mới cũng như xây dựng tính cách mới cho nhân vật trong cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình. Có thể tôi đã không gặp may vì chậm chạp, nhưng thà tôi không gặp may còn hơn bị đấu tố vì tội bắt chước. Bởi tôi là một cô gái có vầng trán cao và đôi mắt vừa to vừa sâu lại vừa sáng! Nếu tôi chưa chọn được con đường đi trong cuộc sống bởi tôi là một cô gái yếu đuối quen được bố mẹ cưng chiều, trong văn chương tôi lại càng không thể chọn. Tôi đã và đang không viết bằng lý trí, tôi chỉ bộc bạch tình cảm, sự dày vò nội tâm, nỗi đau cuộc sống và ước mong hạnh phúc mai sau. Có thể tôi đã đồng cảm với Vệ Tuệ, Cửu Đan, Florence Dugas, Shansa trong hơi thở mà tôi đã nói ở trên và Hợp Lưu xếp tôi vào chuyến xe họ đang đi. Tôi không tự mình mua vé để lên chuyến xe tình dục ấy. Nếu ai thấy tôi ngồi trên ấy, có lẽ truyện ngắn của tôi đã tự tiện cho tôi uống thuốc ngủ và bế tôi lên.



HL: Xã hội trong Tình Chuột được mô tả như những hang động mà tập thể con người là một bầy chuột, Những Sợi Tóc Màu Tang Lễ với đầy rẫy quái thai, với những quan chức cùng những trí thức biến hoá ma quái mặt xanh mặt vàng. Cô Gái Điếm và 5 Người Đàn Ông phô diễn thế giới ảo giác của những người đàn ông bị ám ảnh tình dục, mỗi người mỗi kiểu. Bóng Đè là câu chuyện của một dân tộc chung sống với rắn. Mô hình xã hội trong sáng tác của Đỗ Hoàng Diệu cho đến nay là mô hình tổ chức bầy đàn của thú vật. Dường như cô đánh mất niềm tin vào tập thể con người và xã hội Việt Nam với cô đang thoái hoá? Người đọc phải hiểu như vậy sau khi đọc các truyện ngắn kể trên?



ĐHD: Trong hang động thường tối tăm nhưng cũng có một vài khoảng sáng. Và thường thì những khoảng sáng ấy thật đẹp, thật quý giá, hiếm hoi. Cũng vậy, đàn thú vật có con hung dữ con hiền lành. Tôi không cố ý xây dựng một mô hình bầy đàn thú vật ẩn mình trong hang động tối tăm. Cô gái trong Tình Chuột dù đã bị những con chuột hôi hám cấu xé, đến lúc cô chết chúng vẫn rình rập quanh cô, nhưng tôi gọi cô ấy là thiên thần. Cô ấy đã sống hết mình vì tình yêu, đã chung thủy đến phút cuối ngay cả khi chuột cống rúc vào thân thể cô. Cô ấy sáng lên rực rỡ trong một hang động tăm tối. Còn ở Bóng Đè, cô gái mẫn cảm mang trong dáng hình nhỏ bé triệu triệu đam mê, khao khát đến lạ lùng ấy, tưởng chừng phóng đãng, tưởng chừng thác loạn nhưng lại chính là người cứu rỗi lỗi lầm của quá khứ và mơ ước tương lai. Đánh mất niềm tin không có nghĩa là ngày tận số. Dù hơi tàn lực kiệt, đâu đâu cũng là đêm tối, nhưng còn hơi thở đam mê, còn bàn tay thon kỳ diệu óng ánh dưới nắng, sẽ còn có ngày mai. Cứ yêu người bằng cả trái tim mình đi rồi người sẽ quay về, ánh sáng sẽ chiếu xuống.

Tôi như một người chụp hình. Trong một lúc nào đó, tôi chụp một góc hang động, nơi các con vật đang cắn xé lẫn nhau. Nhưng tôi muốn người đọc nhìn thấy linh hồn của những con vật ấy chứ không phải lông lá của chúng. Và cũng không có nghĩa xã hội Việt Nam đâu đâu cũng đều hang động. Xã hội thoái hoá hay không là do quan điểm của mỗi người, tùy thuộc người đó mang "âkính mát" vô tình hay "kính lúp" soi rọi. Bây giờ, tôi đang mang cặp kính viễn thị.



HL: Trong tất cả các truyện cô đã công bố, Bóng Đè đặc biệt hơn hết. Người đọc cảm nhận sức mạnh, chất mê hoặc của truyện xây dựng trên bản năng của tác giả, đã cảm thấu và bắt gặp "âmột quá khứ phi phàm", như chữ cô dùng. Dường như với Bóng Đè, Đỗ Hoàng Diệu đặt nghi vấn về sự xâm lấn của lịch sử từ quá khứ hãm hiếp hiện tại và di truyền tương lai? Và con người, một tác nhân xã hội, ngoài bản năng không có phương tiện nào khác để chống đỡ, vượt thoát hoặc thay đổi hiện thực của chính mình?



ĐHD: Trong Thư toà soạn số 78, Hợp Lưu cho rằng ở Bóng Đè, tôi đã "trình bầy một tình trạng quỷ quái đến kinh ngạc". Tôi không nghĩ câu chuyện trong Bóng Đè là quỷ quái. Bởi tất cả chúng ta, dù muốn hay không, đã được sinh ra từ quá khứ. Quá khứ nặn ra đôi bàn tay, nặn ra tiếng khóc chào đời và nặn luôn thứ mà ta quen gọi là bản năng. Và khi hàng ngày chúng ta vẫn dùng đôi bàn tay để làm việc, để ăn, để âu yếm, quá khứ vẫn ngụ cư trong mỗi con người. Quá khứ nhỏ trong quá khứ phi phàm của cả một dòng họ, một dân tộc, một đất nước. Bóng Đè là câu chuyện về thân phận một cô gái có bản năng mạnh mẽ kỳ lạ, cô đã bị các thế lực đen tối của ngày hôm qua chọn để cưỡng bức, đưa mầm mống của mình sang hiện tại và tương lai. Không phải ngẫu nhiên thế lực đen tối lại chọn cô gái mà không phải bất cứ một người phụ nữ nào khác. Bởi cô mang trong dáng hình nhỏ bé một bản năng dâng tràn như sóng cuộn, đam mê nồng nàn, sự nhạy cảm thái quá cùng niềm khao khát bỏng cháy. Chính bản năng mãnh liệt này làm cho cô vô cùng quyến rũ, đến cả trăm đời dòng dõi đế vương cũng bị cô mê hoặc. Nhưng cô cũng quá đỗi yếu đuối. Cô không thể chống cự nổi sự hung bạo của ngàn cuộc chiến tranh đã phá huỷ đất nước này, không thể chống cự bao nhiêu lề thói cổ hủ phong kiến ăn sâu vào cội rễ xã hội, và điều làm cô quỵ gục hoàn toàn là cô chẳng thế nào chống lại sự độc ác, tà dâm của con người.

Mỗi sáng sớm, soi mình trong gương, tôi thường có thói quen miết những ngón tay xinh xắn lên vầng trán, viền môi. Để biết mình còn sống, để biết súng đạn của những cuộc chiến tranh tàn bạo xa xưa qua những giấc mộng chưa mang tôi đi, và một tương lai ảm đạm phía trước còn chưa nuốt chửng mình. Rồi nhiều khi những ngón tay xinh miết khắp người, để hòng trả lời câu hỏi: tôi là ai, người đàn ông của tôi sao mãi vẫn chưa về? Còn chống đỡ, vượt thoát hoặc thay đổi hiện thực của chính mình? Tôi chỉ là một thiếu nữ có bàn tay mỏng manh, cho dù bàn tay kỳ lạ, nó cũng chỉ năm ngón ngắn dài, nó không với quá được bóng của chính mình trong nắng.



HL: Bản năng của một nhà văn là yếu tố quan trọng nhất giúp hình thành tác phẩm?



ĐHD: Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn biết Hợp Lưu nhắc tới tác phẩm loại nào? Tác phẩm mà từng ngôn từ, từng câu văn là những tiếng kêu của nỗi ám ảnh, là từng vết lằn của đòn roi, là tiếng nấc nghẹn khi ân ái... Hay là sự sắp xếp những chữ nghĩa mỹ miều, đao to búa lớn lại với nhau rồi cố ý la to cho cả thế giới biết: tôi đã vật vã để viết nên tác phẩm bất hủ? Trong trường hợp thứ hai này, tôi gọi là sự dối trá chính bản thân mình.

Nói như vậy, không có nghĩa tất cả nhà văn khi viết phải trải qua đau đớn, phải chịu ám ảnh, phải ân ái. Nhưng phàm là người viết văn, phải đau nỗi đau của thân phận mình tạo dựng, để khi đến tay độc giả, người đọc lại đau nỗi đau của nhân vật. Nhân vật ấy có thể chính là hoá thân của tác giả, có thể là bạn bè xung quanh, nhưng cũng có thể chỉ là trong tưởng tượng. Vô hình dung, một vòng quay linh cảm được tạo lập. Tạo lập nhờ bản năng của nhà văn. Và lúc này tôi có thể trả lời; bản năng của một nhà văn chính là yếu tố quan trọng nhất giúp hình thành tác phẩm, ít ra là đối với tôi, bây giờ. Những ai đã từng gặp tôi, tinh nhạy để thấu hiểu bên trong cái vẻ ngoài hình như hiện đại kia là gì, họ đều biết tôi đang lặn ngụp trong vực thẳm rẫy nóng của chính mình và phát ra tiếng kêu khát khao hạnh phúc.



HL: Bản năng nhà văn và "bản năng công dân" khác nhau hoặc trùng lập với nhau? Khi cầm bút viết, Đỗ Hoàng Diệu là một thiếu nữ thác loạn tình dục ưa nổi loạn đập phá, buông bút xuống cô trở lại thành thiếu nữ nhu mì, thôi phóng đãng, sợ hãi và phục tòng mọi quy ước xã hội?



ĐHD: Nếu tôi nói rằng khi cầm bút viết tôi là một người khác, có nghĩa văn chương của tôi không thật. Nhưng cũng không có nghĩa những nhân vật trong 4 truyện ngắn của tôi mà Hợp Lưu đã công bố lại chính là tôi! Danh họa Picasso vẽ bức Guernica, không có nghĩa ông ta thích chiến tranh. Ông ta chỉ đem đến một góc nhìn về chiến tranh. Tôi đang sáng tác truyện ngắn, tôi không viết hồi ký, tự truyện. Cách nhìn của tôi, cách tôi bày tỏ yêu ghét với các vấn đề tôi nêu ra thể hiện bản năng tôi. Cũng như khi tôi dùng từ, mạch văn tôi viết, nhịp văn tôi ngắt, đọc giả biết tôi đang nghĩ gì. Vả lại, 4 nhân vật nữ trong 4 truyện ngắn đã đăng trên Hợp Lưu, tôi cho rằng họ là những cô gái tốt. Thậm chí, giữa xã hội Việt Nam bây giờ, tìm được những người như họ quả là hiếm! Họ có một sức sống mãnh liệt, những tình yêu thực sự cho dù thân thể họ chịu bầm dập. Họ không thác loạn tình dục, họ không nổi loạn đập phá, họ chỉ sống thật với bản năng, nhưng họ đã phải trả giá vì việc sống thật này. Đó là sự oái ăm của cuộc đời mà người ta vẫn gọi tên số phận.

Giả dụ ai gặp tôi vào một buổi sáng nào đó, khi tôi trang điểm nhẹ nhàng, môi hồng mắt nâu, luôn miệng cười với mọi người xung quanh, nói năng bằng cái giọng mê hồn, người đó sẽ nghĩ tôi là thiếu nữ nhu mì, sợ hãi phục tùng mọi quy ước xã hội? Còn khi tôi ôm hôn người yêu mê đắm bên hồ Gươm một đêm trăng sáng, người qua kẻ lại trố mắt nhìn, nghĩ tôi đang thác loạn tình dục? Rồi khi tôi viết đen thành trắng trong một bài báo chỉ cốt để nhận phong bì nuôi mình sống qua ngày, cũng chính người đó sẽ cho rằng tôi không làm tròn trách nhiệm công dân với tổ quốc? Chỉ là tôi, duy nhất tôi, dằn vặt tôi, giày xéo tôi, phân thân chính mình!



HL: Xã hội Việt Nam có phải là một xã hội mặc đồng phục? Nhận xét của cô về cách sống của thế hệ trẻ hôm nay mà cô là một thành viên?



ĐHD: Nếu đất nước may và tặng cho tôi một bộ đồng phục thật đẹp, đẹp nhất trong các bộ áo quần mà tôi có, chắc chắn tôi sẽ suốt ngày mặc nó. Mặc khi đi làm thì nghiêm trang, lịch sự; mặc khi dạo phố thì vui tươi, mát mẻ (và có chỗ cất tiền kín mà dân móc túi khó nhòm ngó); mặc khi hội hè thì quyến rũ, lộng lẫy... Dại gì tôi không mặc cơ chứ. Khi ngủ, tôi sẽ giặt bộ đồng phục, sáng mai lại là lượt cẩn thận và khoác lên người, lúc nào cũng mang cảm giác hân hoan có quần áo mới. Tôi sẽ chăm chút bộ đồng phục như một tài sản quý giá, và ai làm hỏng nó, chắc tôi không để yên. Mà thôi, đất nước còn nghèo, tôi không cần đất nước tặng tôi bộ quần áo đắt tiền, vải ngoại. Chỉ cần vải phin hoa thôi, nhưng hãy cắt may thật khéo, mỗi đường chỉ là sự trân trọng, sự chăm chút người mặc thực lòng, ông thợ may đừng vì hám lợi ăn bớt một vài đoạn chỉ hay vì mang mối thù từ đời ông cố ông sơ mà làm ẩu để áo tôi đứt cúc giữa đường!

Bây giờ đất nước cứ bắt tôi phải mặc đồng phục, trong khi bộ đồng phục mới xỏ tay đã rách. Ngày mai bắt tôi mặc, tôi hoặc mặc áo rách ra đường, hoặc ru rú một xó ngồi nhà, hoặc nữa thì len lén bận áo quần của riêng mình nơm nớp lo sợ dị dạng. Lơ ngơ ra đường, ngứa tay vung vẩy, thì đồng phục... lại rách toạc rồi người ta lại khiển trách tôi vì tội thiếu phẩm hạnh, không biết giữ gìn thuần phong mỹ tục. Thỉnh thoảng tôi lại thấy có ông mặt mũi phương phi, béo núc, đỏ au, sáng nào cũng mặc đồng phục đến công sở, nhưng chỉ là để điểm danh thôi. Tôi và bạn bè tôi thường cất bộ đồng phục trong tủ, nhưng phải để ở chỗ dễ nhìn thấy. Để chỉ cần loa phóng thanh của ủy ban nhân dân phường "A lô, a lô, bà con chú ý!" là mang ra mặc ngay với cảm giác khoác áo tơi, vừa nóng lại vừa xấu. Nhưng chớ có dại dột mà chê bai nhé, mồm miệng phải liến thoắng: đẹp quá, đẹp quá, mát quá, mát quá trong khi tay tìm điện thoại gọi xin xe cấp cứu. Biết đến khi nào xe cấp cứu đến nơi! Nhưng mà cứ gọi, không đến kịp để cứu người chết nóng thì cứu người chết rét. Nơi đâu, mỗi giờ mà chẳng cần xe cấp cứu!

Thế hệ chúng tôi, con nhà giàu thì tìm cách ra nước ngoài du học và tìm cách ở lại. Số về nước thì không nửa đêm rửng mỡ rủ nhau vèo BMW ra vòng xoay Hàng Xanh chờn mặt với mấy anh cảnh sát giao thông, cũng đâm đầu dính chặt trong các văn phòng nước ngoài để kiếm ít tờ xanh. Chàng àng, dình dang trong nước năm năm dưới mái trường Đại học xã hội chủ nghĩa như tôi, như đa số bạn bè tôi, ra trường trái ngành, trái nghề cũng kiếm cơm qua ngày. Được cái, đứa nào đứa nấy phản xạ cực nhanh và hầu hết mắc bệnh biến thái. Mới mặc đồng phục giơ cao cánh tay đăng ký xung phong phút trước phút sau đã vẽ bậy trong nhà vệ sinh đóng kín, đảm bảo không lỗ rò!

Nhưng mà chung quy chúng tôi là những con ốc, ốc chưa mang nổi mình ốc tính gì đèo bồng ai. Làm sao để có tiền nuôi sống mình mà không phải bán mình sang Đài Loan, Trung Quốc, làm sao đến tuổi thì lấy chồng lấy vợ, gia đình nếp sống mới trong thôn văn minh, xã văn minh, thế là OK.



HL: Chỗ đứng của nhà văn trong xã hội Việt Nam, theo cô?



ĐHD: Tôi thường gặp họ nhiều nhất trong quán nhậu! Sang thì quán ba ba, thịt rắn, thịt rừng. Kém kém một chút thì bia hơi vỉa hè. Bí beng chút nữa, vài chén rượu đế hột mít có cặn trước mâm thịt cầy. Họ hết đứng rồi ngồi, hết nói nhỏ rồi nói to, hết đ. cha thì đ. mẹ, hết cười rang hảo hớn đến bưng mặt như trẻ con.. Khi say, họ thực sự dấn thân, với những lời "tả oán" oai hùng! Như thế, nhà văn Việt Nam đang đứng ở đâu? Họ còn sống hay đã chết? Có còn mảnh đất nào không, có còn bầu trời nào không? Họ vẫn đang sống giữa phố phường và...làm thơ. Tôi chưa phải là một nhà văn, tôi đang tìm chỗ đứng của mình.



HL: Được biết cô theo dõi và đọc nhiều tác phẩm ngoài nước trên các trang mạng, và cũng có lần cô nhận xét bên ngoài viết khác bên trong. Cô cảm nhận Văn học di dân Việt Nam ra sao? Sự khác biệt với trong nước chính yếu nằm ở đâu? Các tác giả nào khiến cô lưu ý?



ĐHD: Tất nhiên, bên ngoài phải viết khác bên trong. Đề tài thì vẫn là chiến tranh và thân phận con người. Nhưng cuộc chiến đối với người bên ngoài là một cuộc chiến khác, với người bên trong là một cuộc chiến khác. Đọc sáng tác trong ngoài tôi có cảm tưởng đã có hai cuộc chiến xảy ra trên cùng một đất nước, trong cùng một thời điểm. Thân phận con người sau chiến tranh nhìn từ bên ngoài cũng khác thân phận con người nhìn từ bên trong. Chỉ có chung những nỗi đau và sự mất mát trong tâm linh. Tôi thích đọc các nhà văn bên ngoài bởi cảm tưởng bao giờ họ cũng nói tiếng nói thật tình. Họ không phải che đậy vì sợ hãi, không phải nghĩ đến chuyện viết ra rồi, báo nào, nhà xuất bản nào sẽ in. Tôi nghĩ họ viết trong niềm say mê, họ viết cho mình và cho bạn bè mình. Văn của họ đầy day dứt, trăn trở, tiếc nuối và khao khát.

Điều làm tôi ngạc nhiên là càng xa quê hương, họ càng trân trọng tiếng Việt. Ngôn từ phần đông trong số họ lịch lãm, chau chuốt, mượt mà đến khó tin. Văn của Mai Ninh là một ví dụ. Không những trau chuốt, mượt mà, chị còn sáng tạo ra nhiều từ mới lạ, sâu sắc. Tôi cũng yêu thích chất nữ tính, nhẹ nhàng trong sáng tác của Miêng hay Phạm Thị Ngọc. Sự uyên bác pha lẫn cảm giác rờn rợn trong truyện ngắn Võ Đình. Sự hùng tráng khoẻ mạnh nhưng cũng đầy lãng mạn trong tiểu thuyết lịch sử của Nam Dao. Chất đam mê, phóng túng trong sáng tác Thơ Thơ, Nguyễn Thị Thanh Bình. Sự lạnh lùng, tàn khốc đến bật máu khi đọc Trần Vũ... Nói chung, càng đọc tôi càng ngạc nhiên về họ.

Cách đây mấy năm, nghe nhà phê bình Thuỵ Khuê giới thiệu bộ trường thiên Mùa Biển Động của nhà văn Nguyễn Mộng Giác trên RFI, tôi đã nhờ bạn bè mang về cho tôi bộ tiểu thuyết này, song cả 3 lần đều thất bại. Thấy tôi thèm đọc quá, bạn tôi đã phải đánh máy và gửi qua e-mail cho tôi mấy chục trang. Đọc, và càng thêm thèm được đọc tiếp. Đang hy vọng lần thứ 4 sẽ trót lọt. Có lẽ tôi sẽ lên chùa tụng kinh mấy ngày nhờ Bồ Tát hoá phép, để mấy ông mấy bà Hải Quan tự nhiên mờ mắt ngày bạn tôi về.

HL: Cám ơn Đỗ Hoàng Diệu.

HỢP LƯU
thực hiện qua điện thư

tháng 8-2004
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2005, 02:23 AM   #25
joker25
Khách
 
Bài : n/a
Default

Tôi giới thiệu thêm truyện ngắn Linh Thiêng của Đỗ Hoàng Diệu đăng trên tạp chí Văn Học ở hải ngoại, số 224 tháng 4+5/2005 do Nguyễn Mộng Giác chủ biên (nay là Cao Xuân Huy). Truyện ngắn Linh Thiêng hoàn toàn không biên tập để độc giả và các nhà phê bình có thêm dữ kiện để đánh giá văn phong Đỗ Hoàng Diệu. Đồng thời trả lại sự sạch sẽ, sòng phẳng cho nền văn học Việt Nam

LINH THIÊNG
Đỗ Hoàng Diệu
Văn Học 224

"Thẩm phán, thanh tra, luật sư, và cả tiểu thương. Không hiểu sao tôi cứ ngờ ngợ họ toàn là cánh cụt. Cánh cụt sống ở vùng quanh năm nắng nóng. "
(xem: 576 (đọc tiếp ... | 500 bytes nữa | )

http://www.vanhoc.net/
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2005, 02:50 AM   #26
joker25
Khách
 
Bài : n/a
Default

Giới thiệu truyện ngắn GIÁO SĨ của Trần Vũ để thấy rõ văn phong của tác giả.
--------------------------------------------------------------------------------
GIÁO SĨ
Trần Vũ
Alexandre Lucien Abel de Rhodes mang gương mặt thống khổ và si mê của oan hồn chưa hề biết đến tình yêu. Những ai bắt gặp giáo sĩ những năm thánh chiến, thảng thốt nhận ra bóng ma mang nỗi buồn chín thối ruột gan của một người đàn ông chưa toại nguyện thân xác. Hôi thối đến nỗi những người lính Marốc của tiểu đoàn 10 Tabor tăng cường cho trung đoàn 3 Lê Dương phải bịt mũi trước xú uế nồng nặc bốc toả từ nhà thờ chính toà Cao Bằng. Thời kỳ đường thuộc địa số 4 chưa bị cắt, con đường hun hút treo vắt qua những triền núi thăm thẳm, các chuyến quân xa hãy còn tấp nập đổ những đám lính say rượu ầm ĩ xuống xóm nhà thổ, pháo đài đầy rẫy hiện tượng. Mỗi khi Alexandre de Rhodes thăm các họ đạo, các ruộng mạ mới xanh mơn mởn bỗng dưng héo úa hoá ra cằn cỗi rồi đổ rạp xuống thành đống rạ cũ mốc như đã cháy khô từ bao kiếp nào. Các gốc sữa chai sần không thể trổ hoa và ngay đến con sông Hiểm nổi tiếng hung dữ, mặt nước bình thường cuộn siết xoáy nhận chìm biết bao bè gỗ cũng vụt trở nên lặng lờ thiu chảy. Nỗi buồn thống thiết trống vắng tình yêu ở cha cố lây lan đến khắp vạn vật, kể cả con người. Mỗi sáng chúa nhật rước lễ, trông thấy De Rhodes hiện hình trên bục giảng, các con chiên giáo xứ oà khóc vật vã tức tưởi như vừa trông thấy chính đấng Chirst đang chịu thương khó trên thập tự giá. Chứng trầm uất Thừa Sai phủ trùm lấp pháo đài đến mức những tháng sau cùng trước trận đánh đường biên giới, đại tá Antoine Marie Pierre Charton chỉ huy trung đoàn 3 Lê Dương và cố thống chế Ney tư lệnh khu biên thùy đông bắc phải nghiêm cấm các binh sĩ lui tới nhà thờ để tránh hội chứng cô buồn giáo sĩ. Đó là thời kỳ Cao Bằng thác loạn với những trận làm tình thâu đêm của lính Lê Dương, những trận cười suốt sáng ở xóm thổ, những viên thuốc tẩy não vong bác sĩ Louis Pasteur phát cho các đứa bé mắc chứng trừu run chân, của bệnh viêm khứu giác Marốc không chịu nổi xú uế, của những cô gái Mèo khâu vá màn trinh vội vã và của cả những linh hồn sĩ quan da trắng thất lạc trong kế sách bình định của tổng chỉ huy Carpentier.

Vương cung thánh đường thị xã mang kiến trúc Y Pha Nho thời Phục Hưng pha lẫn kiến trúc nặng nề Áo Phổ. Thời đó, các xóm lương đã gọi giáo đường là Lăng Cha Cả, ai cũng biết giáo sĩ De Rhodes chết từ lâu lắm, vong hồn chưa siêu thoát, còn đợi ngày phán xét cuối cùng chưa xẩy đến, hãy còn quyến luyến Đông Dương vùng đất ông đã đến truyền giáo và lập chữ viết bản xứ. Tất cả giáo dân kính trọng quyết định của toà thánh, cho phép vong giáo sĩ trở về cai quản địa hạt Cao Bằng, nhưng nhà thờ chính toà đã mục nát lắm. Ngoài mùi xú uế xông từ nỗi buồn chín thối ruột gan của cha cố, hình như không còn thứ gì tươi tốt. Từ những nhành huệ đã tàn rữa rụng chậm chạp, những trang kinh thánh đã hoá tro, các chân nến đã hết sáp nhưng vẫn tiếp tục cháy ngọn lửa leo lét mà không ai hiểu vì sao, đến các băng gỗ cũ mục mối mọt kê dưới chân tượng thánh Michel đã bắt đầu nổi ghẻ và tháp chuông thẳng đứng cao vút cũng chìm trong vũng mây xiêu đổ hoang tàn. Alexandre de Rhodes chui rúc trong nhà nguyện. Giáo sĩ mặc cảm với tất cả mọi đàn bà sinh sống trong pháo đài từ lúc nhận chân ông đã bị thượng đế tước mất chức năng đàn ông, từ lúc khám phá rặng sữa sau nhà thờ không bao giờ có thể đơm hoa trắng và vườn cà ông trồng đã ba trăm năm không thể cho trái. De Rhodes chỉ còn một nỗi đam mê cuối cùng duy nhất. Nỗi đam mê tiểu thuyết.

Hiếm ai biết những cuốn tiểu thuyết An Nam diễm tình dịch sang tiếng La Tinh và Bồ Đào Nha bày bán ở hiệu sách Tôn Thọ Tường những tháng đầu năm 1950 do chính tay Alexandre de Rhodes chuyển ngữ. Giáo sĩ kinh hoảng khám phá thứ chữ ông ký âm ba thế kỷ trước đã trở nên lúc nhúc đông đúc thoát ra khỏi quy tắc văn phạm do chính ông thiết lập trong tự vị Việt Bồ La. Lúc sinh tiền, De Rhodes đã nhận ra mọi thứ biến hoá cấp kỳ ở An Nam. Lần chứng kiến cố Du tử đạo, De Rhodes đã để ý những khóm dứa trồng quanh pháp trường chỉ cao bằng đọt măng tây, đã lớn nhanh như thổi từ lúc đao phủ của Chúa Nguyễn hươi đao cho đến khi chặt thủ cấp cố Du, đã đơm trái chín vàng ngọt rụng xuống các gánh hàng rong xăm que bán cho khách đi xem hành quyết. Mãi về sau ông mới hiểu, khóm dứa nhờ thấm phân cố Du quá sợ hãi vãi đái mà lớn nhanh như vậy. De Rhodes cũng chứng kiến sắc tộc Kinh có khả năng học ngoại ngữ rất nhanh. Những ngày ở Đàng Trong, khuyến khích các con chiên vừa mới theo đạo xưng tội, De Rhodes để ý các cô gái chỉ biết khai bằng tiếng Khmer ông không sao hiểu, nhưng cũng các cô gái đó, khi lập gia đình đến nhờ ông làm phép giao, đã nói lưu loát tiếng Trung Hoa và khi De Rhodes rửa tội cho đứa con đầu lòng, các cô dâu trẻ đã biết nói merci và xin pourboire. Thời kỳ trông coi giáo phận Cao Bằng, De Rhodes quyết tâm dành hết thời gian khám phá những bí ẩn trong con người An Nam. Ông không còn ăn bổng lộc của hội Thừa Sai và có đủ thời gian cần thiết cho đến ngày chúa sống lại. De Rhodes tin bí mật sắc tộc Kinh chỉ có thể phô diễn và lưu lại qua chữ viết. Ông bắt đầu lùng sục những chợ sách, nhưng rất nhanh De Rhodes ngạc nhiên thấy tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh in hệt tiểu thuyết Pháp, tiểu thuyết Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Trọng Quản không khác mấy thời ông viết Phép Giảng Tám Ngày và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng châm biếm nhức nhối ông không sao hiểu hết. Giáo sĩ bắt đầu tuyệt vọng, ông ợ hơi thum thủm và nỗi buồn chín thối ruột gan càng lúc càng nồng nặc thối hoăng khắp vùng. Các họ đạo xa lánh dần nhà thờ, mỗi lúc làm lễ De Rhodes phải giảng kinh Sám Hối ven sông Bằng Giang để gió xua bớt mùi thối. Giáo đường mỗi lúc một hoang vắng, ngay cả dì phước Louise Marie de Bourbon, nữ tu không còn chức năng đàn bà, cũng không dám thường xuyên đến chăm sóc cha cố, chỉ liên lạc với cố đạo qua thư tín. Tấm áo chùng gai của Alexandre de Rhodes không còn được dì Louise giặt giũ, mỗi lúc một cũ nát, bẩn thỉu và chảy nước vàng của chứng thối ruột. Nhà thờ chính toà trở nên thê lương, mối ăn ruỗng các cột quân và vòm mái đìu hiu leo lét tim đèn không còn dầu. Các xóm đạo chung quanh đã phải dọn đi vì sợ giáo đường sụp đổ bất cứ lúc nào. Cho đến ngày vong cố Du Paul Marchand ghé thăm, thâm tạ De Rhodes đã tiễn đưa ra pháp trường Thọ Đức lúc lâm chung, đã mách chỉ cho giáo sĩ thư viện to lớn cổ xưa của nhà thờ xây chìm sâu trong một căn hầm đá, lúc đó, Alexandre de Rhodes mới khám phá ra Tự Lực Văn Đoàn.

Alexandre Lucien Abel de Rhodes đọc miên man những cuốn tiểu thuyết diễõm tình. Giáo sĩ không ra khỏi hầm đá, ăn uống tiêu tiểu ngay bên cạnh giá sách Tự Lực. Thậm chí ông không có thì giờ vén áo chùng mỗi khi đại tiện. De Rhodes đọc đi đọc lại những cuốn tiểu thuyết, đọc hết chương này sang chương khác, đọc hết cuốn này sang cuốn khác, ông vừa tra tự vị mỗi khi gặp những chữ mới không do ông ký âm, vừa phiên dịch sang tử ngữ La Tinh và tiếng Bồ Đào Nha, ông bắt gặp trở lại niềm đam mê cuồng nhiệt nồng thắm ngôn ngữ thời trẻ, và càng đọc De Rhodes càng cảm văn phong trong sáng rất gần gũi Tây Phương vừa đầy tâm lý ý nhị An Nam. Giáo sĩ dịch bốn cuốn Bướm Trắng, Đôi Bạn, Anh Phải Sống và Gánh Hàng Hoa gởi cho các nhà xuất bản Âu Châu nhưng ông chỉ nhận được những hồi âm thờ ơ của nhà Pléïade cho biết thị trường tiểu thuyết Đông Dương không chạy, nhà xuất bản Plon trả lời thẳng truyện dài An Nam còn quá phôi thai chỉ sao chép lại tiểu thuyết Pháp, và nhà Flammarion chê bản dịch chưa chuẩn. Nhưng giáo sĩ không nản chí, ông gởi bán ở hiệu sách Tôn Thọ Tường bên hông Pharmacie de Garde thị xã. Thỉnh thoảng De Rhodes cũng nhận được thư độc giả của các sĩ quan trung đoàn 3 phê bình này nọ. Thư của cố hải quân thiếu tá Henri Rivière khen ngợi văn rất mạch lạc, gẫy gọn, khúc chiết, chỉ ít scène gây cấn. Thư của cố hải quân đại úy Francis Garnier nhận xét nếu thêm chút dâm dục, da diết, dữ dội và loạn luân sẽ lôi cuốn hơn. Thư dì phước Louise thích đặt biệt truyện Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài hơn hết… Các thư độc giả khiến De Rhodes càng hăng say mê mẩn, ông đọc Đời Mưa Gió như sống một mối tình thật sự. Lần đầu tiên giáo sĩ khám phá trong tiểu thuyết ghi chép những điều mà kinh thánh không hề nhắc đến. Đời Mưa Gió ghi chép tất cả tâm trạng con người khi yêu mà De Rhodes chưa hề thấy trong Tân Ước, Cựu Ước. Ông si mê Đời Mưa Gió đến quên đại tiện, quên lễ mifa, quên cả làm phép sức dầu ở nhà xác thị xã cho toán lính Marốc vừa tử trận. De Rhodes dịch mê man Đời Mưa Gió, ông viết thoăn thoắt tựa như chữ đã nhập vào mình, tựa ông đã sống ở phố Quan Thánh nơi nhân vật Chương sinh sống, tựa đã trông thấy Tuyết uống champagne và khiêu vũ. De Rhodes viết đêm ngày, trăng lên trăng xuống ông không hay, mưa bão ông không hề biết, viết đến rách giấy, viết đến thủng bàn gỗ cẩm lai khiến ý văn tung toé, chảy lai láng trên mặt đất. Thậm chí bình mực đã cạn giáo sĩ vẫn tiếp tục chấm, tiếp tục viết đến lúc ngòi bút cùn vẹt, cán bút lụn dần rồi biến mất mà mực vẫn cứ tiếp tục trào ra chảy ở đầu ngón tay ông sưng đỏ như quả ớt.

Những năm thánh chiến, ở Cao Bằng xuất hiện một hiện tượng kỳ quái, không liên quan đến giáo sĩ, mỗi cuối tháng ở nghĩa địa đất thánh Tây ùn lên một đám mây xám ẩm ướt lạnh lẽo phủ trùm khắp hai bờ sông Hiểm. Chính một trong những áng mây nặng chì u uất xám lạnh này đã len lỏi bay xuyên qua vách tường đá của căn hầm thư viện. Nhưng De Rhodes không trông thấy, ông vừa dịch đến câu chữ cuối, đóng bản thảo rồi lim dim mắt. Chưa bao giờ giáo sĩ hài lòng đến vậy suốt kiếp ma khắc khoải không lối thoát. Ông vừa hoàn tất công trình phiên dịch văn chương trác tuyệt, vừa cho các nhân vật tiểu thuyết Tự Lực một kiếp đời khác, trong một ngôn ngữ khác. De Rhodes nhắm mắt sung sướng, gương mặt ông phản chiếu trong mây nỗi hân hoan nhẹ nhàng của cậu bé Alexandre khi rước lễ thành niên lần đầu trong thành Goa. Đã lâu lắm De Rhodes quên ngủ. Từ sau khi chết ba trăm năm, ông không còn phân định được tương lai, thực tại hay quá khứ. Nhưng buổi sáng đó, buổi sáng ngập mây xám trong tầng hầm vách đá của nhà thờ chính toà Cao Bằng, cha cố bất chợt nhớ đến thời trẻ đã có lần trông thấy một thiếu nữ tuyệt đẹp, đội khăn vành trắng không rõ mặt nhưng ánh mắt đen tuyền lấp lánh nghịch ngợm và mái tóc đen bóng của đàn bà Bồ Đào Nha đã để lại trong lòng cậu bé Alexandre nhiều luyến tiếc. Alexandre đã ước mơ được đi theo thiếu nữ, sau rước lễ, cùng sóng đôi rảo bước trên những con đường lát đá cổ xưa của bến cảng trông ra đại dương mênh mông xa vắng, cùng nắm tay trong các lối đi quanh co nhỏ hẹp giăng hoa, treo cờ ngũ sắc và thắp đèn lồng của ngày kiệu Maria. Alexandre cảm giác anh đứng gần lắm thiếu nữ, gần có thể chạm được vào những đầu ngón tay thuôn mảnh dẻ nhú ra ở ống tay áo mỏng, gần đến mức có thể nghe được làn da cô gái đang hô hấp, gần sát đến nỗi anh trông rõ hàng mày đen tinh nghịch đang nhíu cong trông đợi. Alexandre nghĩ anh đang đứng cạnh đức mẹ Maria thời còn con gái. Cả hai chờ đợi nhau lâu lắm, chờ đợi tiếng thở của mỗi người lên xuống trong lòng ngực tràn máu ấm. Thiếu nữ chỉ đợi anh mời lôi kéo vào điệu vũ rước đám đang tưng bừng trẩy hội, để ngã mình xoay trong vòng tay đưa đón của Alexandre điệu múa của sóng biển. Song vũ trụ bất động. Chiếc bánh thánh còn ngậm trong miệng khiến Alexandre không thể cất tiếng. Đức hồng y Richelieu của hội đồng giáo phẩm tối cao toà thánh đã không ngừng răn đe: Các con chiên không được nhai nuốt bánh thánh, chỉ có quyền ngậm cho đến khi mình thánh Chúa hoá thân thành xương thịt của mỗi con chiên, nếu không lửa thiêng sẽ đổ xuống trái đất đời đời. Alexandre nhắm mắt, nước mắt anh chảy ra vì đau đớn, cho nỗi đau bẩm sinh tật nguyền của một thiếu niên mười bốn. Đến khi chiếc bánh thánh tan di, Alexandre mở mắt, cô gái đã biến mất. Alexandre còn trở lại giáo đường nhiều lần nữa với hy vọng gặp lại thiếu nữ, anh đã trở lại nhiều lần đến nỗi thuộc lòng hết bốn ngàn bản thánh ca, thuộc lòng tất cả những bài giảng của các linh mục, thuộc lòng toàn bộ kinh thánh và trở thành cha xứ Dòng Tên lúc nào anh cũng không hay. Alexandre trông coi nhà thờ Goa trong nhiều năm, với hy vọng gặp lại thiếu nữ có đôi mắt đen láy đầy khát khao sự sống, đến lúc gần tuyệt vọng, anh được tin người đàn bà đã kết hôn và theo chồng đi khai trí Châu Á. Cha xứ De Rhodes dấn thân vào hành trình truyền giáo Phương Đông kể từ lúc đó, nhưng mãi mãi, giáo sĩ sẽ không bao giờ còn gặp lại người đàn bà của thành Goa.

Buổi sáng đó, buổi sáng có những khúc lụa bay chậm rãi trong giấc ngủ thiu thiu, De Rhodes có cảm giác một làn sương sớm tinh khiết thơm cây trái đang phả suốt hầm. Hương hoa mỗi lúc một toả ngát đậm đặc lấn át dần mùi xú uế. Cha cố tỉnh ngủ hẳn. Ông nhìn trân trối đoá hồng đỏ gắt đang mọc nhú từ từ, trổ từ bức tường lâu năm ám khói, thứ hồng đỏ gắt rực rỡ Nhật Tân mà có lần De Rhodes đã trông thấy ở xứ bảo hộ Bắc Kỳ. Cha cố kinh ngạc không hiểu vì sao khóm hồng đỏ lịm đã có thể đâm xuyên thủng trần hầm thư viện. Nhưng rõ ràng các đài hoa đang nứt rạn vách đá. Trong một phút, ngôi huyệt cổ đơm chi chít mẫu đơn, glạeul và hồng tía, tựa nhà thờ sắp có lễ giao. De Rhodes lấy tay phủi mây để nhìn cho rõ và ông chết cứng khi ấy, khi tay hãy còn nắm níu những cọng mây đang trôi lơ lửng.

Alexandre chết sững. Người đàn bà có đôi mắt thông minh của thành Goa đang ngồi trước mắt anh, chỉ cách một mặt bàn. Vẫn thiếu nữ nở nang khoẻ mạnh của đêm kiệu Maria, vẫn mái tóc đen loang loáng bóng tối loã xoã trước sống mũi tinh nghịch. Alexandre nghe hơi thở của thiếu nữ lên xuống trong lồng ngực đã qua tuổi dậy thì bung nở kiêu hãnh, nghe hơi thở hổn hển của chính anh, của vong hồn đã tắt thở ba trăm năm. Anh muốn hỏi, nhưng không sao cất tiếng. Muốn thốt lên nỗi nhớ mong da diết diệu vợi của một trăm ba mươi ngàn ngày xa cách nhưng anh chỉ có thể lắp bắp.

- Blời ơi !

Alexandre muốn nói anh đã tìm cô gái suốt từ bấy, từ đêm kiệu Maria chấm dứt anh đã hốt hoảng chạy suốt đêm trong thành Goa tìm kiếm, từ năm 1624 khi anh bước chân xuống những thương thuyền Bồ Đào Nha vượt đại dương đi tìm chân lý của sự sống, từ những tháng ngày lang thang lếch thếch giảng kinh ở các xóm đạo Ấn Độ, Mã Lai, Ma Cao, Hồng Kông, Qui Nhơn, Quảng Ngãi, đến đâu Alexandre cũng chỉ hỏi thăm một người đàn bà duy nhất, mong có ai thấy. Cho đến phút lâm chung trút hơi thở cuối cùng, trên giường bệnh trong thành Ba Tư, Alexandre vẫn hãy còn kêu tên người đàn bà mà anh chưa hề biết. Nhưng anh không tìm ra chữ. Không sao diễn tả thứ tình cảm vĩnh cửu nhân loại còn dai dẳng hơn cả sự sống hứa hẹn đời đời trên nước Chúa. Anh không thể thốt lên lời tỏ tình chưa ghi chép trong kinh thánh. Alexandre nhận ra miệng anh vẫn hãy còn ngậm chiếc bánh thánh ngày nào. Chiếc bánh thánh chưa bao giờ tan, chưa hề tan, chưa hoá thành máu thịt, còn ở nguyên trên lưỡi anh vị nhạt nhẽo của bột lúa mạch xây nhuyễn. Thiếu nữ cũng nhìn anh trừng trừng trân trối, cho đến khi cô gái chắp hai tay vái:

- Vâng em là Tuyết của Đời Mưa Gió, của Nhất Linh và Khái Hưng trong Tự Lực Văn Đoàn, người chịu ơn của anh!

Alexandre Lucien Abel de Rhodes chỉ kêu lên được hai chữ thảng thốt Blời ơi rồi ngất đi. Chữ Blời mà cách đây ba thế kỷ, giáo sĩ đã nhạy cảm hiểu trong ngôn ngữ bản xứ mang cùng một ý nghĩa Đức Chúa Cha trong kinh thánh.



*





Trung úy Bernard de Lattre de Tassigny là một trong những sĩ quan trẻ còn sống hiếm hoi của trung đoàn 3 Lê Dương. Khác với đồng đội, đa số đã quá cố nhưng vẫn tiếp tục hiện dịch, Bernard mang trên mình sức sống còn trinh nguyên của những bông lys trắng chưa héo uá. Viên trung úy trẻ mang vẻ đẹp cao sang quyền quý của những tử tước thời trung cổ, vừa vương giả, vừa tinh khiết của các cô dâu ngày cưới. Nét đẹp của Bernard de Lattre trong trắng đến mức quân phục của anh không bao giờ có thể lấm lem, ngay cả những khi viên trung úy lội sình bùn dẫn một trung đội đi phục kích ở làng Trà Linh, sát cạnh biên giới Trung Hoa. Suốt một đêm ngâm trong sình lỏng, hỗn chiến ác liệt lúc chạm súng, đám lính Lê Dương cáu bẩn bê bết máu, nhưng trung úy De Lattre thẳng thớm như vừa bước chân ra khỏi hiệu giặt ủi. Nhưng khác hẳn đại tướng Jean de Lattre, Bernard không đi tìm hào quang chiến thắng, không ước muốn chinh phục Đông Dương, anh chỉ mang một khát vọng duy nhất, đơn sơ, thầm kín, tìm thấy tình yêu lứa đôi trong đời sống. Trung úy De Lattre là sĩ quan duy nhất không xuống xóm nhà thổ, anh tin vào thượng đế và giữ mình cho tình yêu lớn sau này. Nhưng đó là chuyện của một năm trước, khi đồn Phủ Tổng Hoà chưa thất thủ, khi đường thuộc địa số 3 chưa bị cắt. Thời gian Cao Bằng bắt đầu bị vây hãm, tựa tên khổng lồ bị chôn giữa rừng, chỉ còn nhô chiếc đầu cổ quái khổng lồ lên nhìn ngắm núi đá, hai tay, một níu Bắc Cạn đã bị chặt, một níu Lạng Sơn cố gắng vung chiếc chùy sắt đập lũ dơi đang hút máu, Bernard de Lattre chỉ còn là một thân xác tuyệt vọng sống đợi chết.

Buổi trưa khi đồn Phủ Tổng Hoà thất thủ và mẹ bề trên Thérèse đã một trăm tuổi, đã mù loà của chủng viện Các Thánh Anh Hài bất chợt nằm ác mộng trông thấy đám giặc Cờ Đen vây đốt tu viện, không biết ở đâu có tin đồn trung úy Bernard de Lattre sắp làm lễ cưới. Tin đồn rùm beng đến nỗi, đại tướng De Lattre khi ấy còn chỉ huy đệ nhất lộ quân sông Rhin, từ Âu Châu đã phải gởi thư khuyên nhủ con trai chọn hôn phối phải có phẩm hạnh, gốc gác. Tin đồn nhiều đến mức Bernard de Lattre cũng tin là anh sắp thành hôn khi thấy các trại lính kết hoa và câu lạc bộ sĩ quan trải khăn ăn trắng muốt. Trong pháo đài chỉ có một người đàn bà da trắng duy nhất, nữ tu Louise Marie de Bourbon, phẩm hạnh và xinh đẹp. Bernard đã đến hỏi Louise cho ra lẽ, có phải dì phước đã xin rút phép thông công, thôi ân cách để thành thân với anh? Mãi cho đến lúc hy sinh ngoài mặt trận, Bernard vẫn hãy còn hối tiếc đã hỏi câu hỏi quá ngu xuẩn, dì Louise bị xúc phạm tột độ đã đóng sầm cửa tu viện để không bao giờ còn tiếp anh. Thời gian Bắc Cạn triệt thoái, các đơn vị tiền phương của sư đoàn 308 tiến đến sát bờ sông Hiểm, trung úy De Lattre bất chợt khám phá anh không thể nào tìm ra tình yêu lứa đôi trong cuộc đời, vì một lý do duy nhất, anh không thể định nghĩa được tình yêu, do đó, không thể tổng hợp những tiêu chuẩn cần thiết tối thiểu để chọn ý trung nhân. Ý thức tình yêu không thể tìm thấy, rất khó hiện hữu, bỗng khiến Bernard hối tiếc anh chưa bao giờ xuống xóm thổ, chưa bao giờ ân ái với phụ nữ. Viên trung úy đi ngay xuống xóm yên hoa ven sông Hiểm, bất chấp những ổ phục kích đêm của Việt Minh, nhưng Bernard de Lattre khám phám thêm một điều kinh khủng, anh hoàn toàn bất lực, không có khả năng sinh lý, dù nhỏ nhoi, hiếm muộn.

Thời kỳ đó, ở Cao Bằng lại thêm tin đồn trung úy De Lattre, con trai tân tổng tư lệnh quân đoàn viễn chinh tương lai, sắp tử vong. Nhưng kỳ quặc, khác với tin đồn thất thiệt lễ cưới, do các sĩ quan Pháp chòng ghẹo chế riễu, chính dân bản xứ kháo nhau đám tang sắp đến của Bernard sẽ đi qua phố Chả Cá, bên hông nhà thờ chính toà. Tin đồn nghiêm chỉnh đến độ mỗi lần Bernard xuống phố, các sắc tộc thiểu số Nùng, Mông, Mán, cả người Kinh đều cúi đầu vái lạy anh như đi điếu. Viên trung úy bắt đầu thắc mắc, nỗi nghi ngờ tăng dần lên sau mỗi khi xin xăm, gieo quẻ ở các ngôi đền An Nam. Khác Francis Garnier, khác Henri Rivière, Bernard yêu thích đặc biệt kiến trúc gỗ Á Đông. Anh lui tới thường xuyên các chùa chiền và khám phá tục bói toán An Nam. Thời kỳ đó, những ngôi chùa lớn nhất của Thăng Long đều có văn phòng đại diện tại Cao Bằng, Bernard đã viếng hết những văn phòng chùa cổ nổi tiếng nhất, đã đến chùa Một Cột, chùa Trấn Quốc, chùa Quan Thánh, chùa Trấn Võ, Văn Miếu Quốc Tử Giám và lần nào lấy lá số tử vi, các thầy An Nam cũng đều quả quyết anh sẽ chết ở Đồng Khê, một trăm thầy như một, nhất quyết anh sẽ chết ngày 30 tháng 5 năm 1950. Thậm chí có quẻ còn cho cả giờ chết, là giờ Thần Trùng khiến sau này anh sẽ bắt đi đại tướng Jean de Lattre de Tassigny, khi ông đang ở trên tột đỉnh vinh quang của danh vọng sau chiến thắng Vĩnh Yên. Ban đầu, Bernard đầy nghi hoặc, đã điện về phòng quân số của bộ tư lệnh Bắc Phần, đích thân tướng Alessandri đã trấn an, khuyên anh yên tâm sẽ không chết ở Đồng Khê, vì tất cả các phúc trình báo cáo đều ghi rõ tìm thấy xác trung úy Bernard de Lattre tại Ninh Bình, trong trận bờ sông Đáy, ngày 30 tháng 5.1951, đúng một năm sau đó. Suốt mấy tháng liền, Bernard rất hoang mang, anh không biết đâu là sự thật, đôi lúc tin vào quân sử, vào thực tế hiển nhiên, đại tướng De Lattre chưa sang Đông Dương, chưa có trận Vĩnh Yên làm sao có trận Ninh Bình, và tổng chỉ huy đương nhiệm vẫn hãy còn là tướng Carpentier, nhưng tất cả các quẻ xin xăm ở đền An Nam đều mang một thông điệp trái ngược rùng rợn: Đồng Khê mạng vong lúc 9 giờ sáng.

Buổi trưa đến nhà thờ chính toà thị xã, để từ giã vong hồn cha cố, trung úy De Lattre đã xuống tinh thần lắm. Đã mùng 9 tháng 4, chỉ còn đúng 7 tuần nữa là đúng ngày thần Trùng đến bắt người, mà De Lattre tin chắc anh có tên trong danh sách. Trung úy De Lattre cũng khám phá cơ thể anh đang biến dần thành xác chết, da mặt anh xanh tái, môi thâm và tròng mắt càng lúc càng trắng đục. Bernard cố đổ lỗi do anh mất ngủ, hút thuốc lá quá nhiều và sợ hãi, nhưng rõ ràng là da thịt anh đang chết đi từ từ, chết dần dần đến nỗi anh ăn uống không còn cảm thấy vị giác gì nữa, hai bàn tay lúc nào cũng lạnh ngắt như bàn tay xác chết. Bernard cũng bắt đầu có những dấu hiệu mắc hội chứng buồn thối ruột giáo sĩ. Thứ chứng bệnh chỉ xẩy đến cho đàn ông không toại nguyện thân xác. Anh đã bắt đầu ợ hơi thum thủm và mỗi khi đánh rắm, mùi xú uế thối kinh dị. Bernard tin chắc anh sắp chết, không ai có thể cứu nỗi. Anh muốn đến viện Pasteur khám, nhưng trông thấy những đứa trẻ mắc chứng trừu run chân uống thuốc tẩy não, tuy hết bệnh, nhưng tròng mắt ngô nghê, đầu óc trống rỗng, cứ cười toét miệng khiến anh kinh hoảng. Những tuần lễ sau cùng, các quẻ xăm trở nên khẩn cấp, các tờ chú giải chỉ in đậm một chữ duy nhất, tử vong, nhấp nháy liên hồi như muốn báo nguy hiểm.

Buổi trưa đến chào cố đạo, viên trung úy trông thê thảm. Quần áo anh dơ bẩn, vấy ố, tựa vẻ đẹp trắng trong đã bị chứng thối ruột gan ăn nhấm. Bernard vừa nhận được lệnh thuyên chuyển đơn vị đi đóng đồn Đồng Khê, nơi anh sắp chết. Trung úy De Lattre thấy rõ, anh đang bước dần đến định mệnh, không thể thoát, không thể tránh khỏi. Buổi trưa nắng gay gắt, nắng ran trên mái lô cốt của hàng rào phòng thủ, Bernard de Lattre trang bị rất nhiều vũ khí, ngoài súng colt chỉ huy, anh còn mang bazooka và mìn chống chiến xa, viên sĩ quan luôn sợ hãi chạm trán thần chết, bắt gặp thần Trùng ở mỗi góc phố. Bernard muốn chết trong danh dự, chiến đấu đến phút cuối cùng của đời binh nghiệp ngắn ngủi. Anh cũng không dám đi một mình, sợ thần chết kéo cả bầy. Cùng đi với anh có toán lính da đen lực lưỡng cầm trung liên nồi mở đường. Đám lính đi qua những con ngõ im ỉm, tất cả mọi cửa sổ, cửa cái của các hiệu thương buôn đều đóng kín, cả những gánh hàng rong cũng vất lây lất, không kẻ mua, người bán, chỉ nổi những váng nước vối tím tái. Đám lính đi qua lối đi ngoằn ngèo, giữa trưa im phắc, không tiếng động, không một chút âm thanh nào khác ngoài tiếng cựa mình của bụi. Tất cả phố xá đều mang dấu hiệu một lễ tang của những ngày sau hoả thiêu, một nhà mồ. Nhưng khác mọi khi, các gốc sữa phía sau nhà thờ xum xuê rậm rạp trổ hoa trắng khác thường, tiết ra mùi sữa bột Guigoz nhờn nhờn của khi vừa trộn nước sôi và vườn cà đã ba trăm năm chưa cho trái chen chúc, lúc nhúc những quả cà to bằng trái bí rợ nằm lổn ngổn trên đất. Bernard bỗng cảm thấy thấy sợ. Tất cả mọi thứ đều khác lạ, làm như có bàn tay vô hình lướt qua vạn vật. Chỉ có thể là thần Trùng.

- Ối anh đừng bắn ! Em lạy anh đừng bắn !

Thiếu nữ rên lên hốt hoảng lúc viên trung úy tông cửa. Bóng tối của giáo đường vỡ oà với ánh sáng ập vào nền đá như rải lửa. Dưới tượng Đức Mẹ cũng đang hốt hoảng, Bernard chết sững. Cô gái chắp hai tay vái không ngớt.

- Ối anh đừng bắn ! Em là Tuyết của Đời Mưa Gió, người chịu ơn của anh !

Mãi về sau, trung úy De Lattre vẫn hãy còn nhớ đã choáng váng, lảo đảo như trúng sét. Anh vừa trông thấy rõ rệt định nghĩa tình yêu bấy lâu tìm kiếm, chép đầy đủ trên thân thể cô gái không sót một hàng, một chữ nào. Bernard đánh rớt quả mìn chống chiến xa lúc đó, trong hồi tưởng anh hoàn toàn không nghe thấy tiếng chân hối hả của đám lính ngã bổ hứng quả mìn sợ bật kíp bung nổ. Cả tiếng hỏi nhốn nháo quát tháo và tiếng động gạt tung các tấm phên chắn trước phòng xưng tội lùng sục đặc công Việt Minh và tiếng cơ bẩm lên đạn lục soát một vòng những băng gỗ cầu nguyện của toán cận vệ. Anh nhớ đã rất ngạc nhiên vì những người lính không trông thấy cô gái, đang quỳ trước mặt anh van vái. Bernard nhớ rõ, thiếu nữ in hệt người đàn bà trong trí tưởng bấy lâu anh lùng kiếm, đôi mắt lá răm cuống quýt, mái tóc đen bóng tối, nước da ửng mật giữa trưa nóng, cô gái mang suốt thân thể những bí ẩn của tình yêu và điều kỳ lạ, anh đọc được hết tất cả những mật mã ghi chép tường tận trên da mặt cô gái, viết chi chít ở vành môi dầy và lan xuống đến hai vai, ở bắp tay thuôn nõn săn chắc, đầy ắp ở lồng ngực lên xuống chỉ bị che khuất bởi vạt áo lụa đang trải ra trước mắt. Bernard nhớ anh đã vật cô gái ra đất, xé toạc áo sống để nhìn cho rõ những nguyên lý thầm kín của tình yêu chép nắn nót trên hai bầu ngực, viết quanh rốn, xâm từng chữ ở hai đùi và chính giữa bụng thiếu nữ. Và kỳ diệu, mỗi khi đọc đến đâu, xác thân anh sống lại, hai bàn tay ấm dần, tròng mắt trong xanh và môi không còn thâm tím. Bernard đọc ngấu nghiến tất cả những chữ viết xoắn xít trên mình thiếu nữ, anh không thể nhớ đó là chữ La Tinh, An Nam hay Tây Ban Nha, chỉ nhớ anh có thể hiểu hết tất cả, những định nghĩa tình yêu đang chảy đột ngột tuôn vào người anh như sấm sét.

Cái chết đột ngột của trung úy Bernard de Lattre de Tassigny ngay sau đó, ở trận tổng công kích Đồng Khê khiến không ai rõ chuyện gì đã xẩy ra trong nhà thờ chính toà, nhưng những năm sau thánh chiến, đám lính da đen ít ỏi còn sống sót kể những câu chuyện lạ lùng. Buổi trưa vong giáo sĩ De Rhodes bay đi giảng kinh ở các bản làng Nùng, Thổ, trung úy De Lattre đến nhà thờ và hoá điên. Đám lính da đen trông thấy ông vật lộn một mình với khoảng không, tuồng ông rơi vào trạng thái động kinh tâm thần, toán lính cận vệ ngỡ ông sắp sốt xuất huyết, vội vã chích huyết thanh, nhưng De Lattre đã giận dữ đuổi cổ tất cả ra khỏi nhà thờ. Đứng ngoài cổng những người lính châu Phi nghe rõ viên trung úy thở hào hển, hối hả gục mặt xuống đất hôn như mưa lên nền đá hoa cương, đôi lúc đối thoại bí mật với một người đàn bà nào đó, có lúc gần như tỏ tình đắm đuối đến kiệt sức. Suốt buổi chiều Bernard de Lattre ở trong nhà thờ, cho đến khi bước ra, gương mặt ông mang nỗi si mê kỳ dị. De Lattre vứt bỏ vũ khí, cởi quần áo, nhảy xuống sông Bằng Giang bơi đến tận nguồn, mãi đến tối mịt ông mới bơi trở về, và chuyện lạ hiếm có, lần đầu tiên ông dẫn cả đơn vị xuống xóm thổ, đãi bia và thuê bao tất cả những cô gái điếm kinh nghiệm. Suốt đêm đó, cả thị xã không ai ngủ được vì tiếng rên la thoả mãn không đứt quãng của các cô gái nối tiếp nhau thay phiên làm tình không ngơi nghỉ với viên trung úy. Tiếng kêu la khoái lạc vọng đến sáng và rất đông đã có thai sau đó. Nhiều năm sau chiến tranh vẫn còn nhiều cô gái giắt con đến đại sứ quán Pháp ở phố Lý Quốc Sư, xin mang họ De Lattre, xin nhập tịch và lãnh trợ cấp trong lúc chờ đợi định cư ở mẫu quốc.

Tin trung úy De Lattre tìm thấy định nghĩa tình yêu loan rất nhanh, trở thành hiện tượng trong những ngày trước trận đánh thảm khốc đường biên giới. Ai gặp De Lattre cũng hỏi xin định nghĩa tình yêu nhưng viên trung úy bảo mật cho đến phút chót, cho đến khi lên quân xa dẫn đại đội đi đóng đồn Đồng Khê. Câu chuyện của toán lính da đen chấm dứt ở đó. Những kẻ tò mò muốn biết bí mật của nhà thờ chỉ nghe kể, khi tiểu đoàn thủy binh từ bờ sông Đáy được lệnh bằng mọi giá tái chiếm núi đá vôi Ninh Bình, trung đội khinh binh đi đầu đã tìm thấy xác Bernard de Lattre hãy còn tươi nguyên, còn giữ nguyên trong tròng mắt chưa khép những hàng chữ viết li ti chi chít một thứ ngôn ngữ kỳ dị nào đó mà không ai có thể hiểu. Đó là thời lính Lê Dương ưa hát những bản nhạc của quỷ:



Louise Marie où vas tu dans le monde ?

Je vais où vont les soldats

Louise Marie qui aimes tu ?

J'aime celui qui va mourrir

et le diable en rit, Ha, Ha, Ha, Ha



Cũng là thời Tuyết dứt khoát thôi ăn ở với Chương trong Đời Mưa Gió.
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2005, 02:52 AM   #27
joker25
Khách
 
Bài : n/a
Default

Ban đầu là tiếng sầm sầm như nhà thờ có gió lộng. Tiếng gió vần vũ mỗi lúc một lớn khiến Tuyết thức giấc. Tiếng gió sồng sộc thổi tốc các viên ngói bay thốc tháo ở phố Tây làm rung các tấm tôn của phố Chả Cá vang lên như tiếng kêu của thú rừng. Tiếng gạch đá lăn bị gió quất lên vách nhà thờ từng chập nghe rõ mồn một. Tuyết bật dậy bước ra khỏi chồng bản thảo cha cố xếp ngay ngắn bên cạnh tiểu thuyết Đời Mưa Gió. Tối qua cả hai ngủ muộn. Tuyết đã xưng tội với giáo sĩ suốt đêm đến gần sáng. Trong suốt cuộc đời của một nhân vật tiểu thuyết Tuyết chưa bao giờ sống một buổi tối kỳ lạ như thế. Quá khứ của nàng cứ lần lượt trôi qua trong đôi mắt xanh thăm thẳm của giáo sĩ. Kể cả những ngày mới gần đây sống bên cạnh cha cố, tất cả cử chỉ của một người đàn ông vô cùng thông thái, lịch duyệt và cưng chiều nàng hết mực cũng diễn ra chậm chạp. Đến suy nghĩ của chính nàng, Tuyết cũng trông thấy lại. Tuyết không sao hiểu nỗi đức cha có thể sống với chứng bệnh buồn bã thối chín ruột gan, thường trực chảy nước vàng ở dương vật. Ngay hôm đầu tiên Tuyết đã quyết định nấu nước cho giáo sĩ tắm. Trong lúc ông ngâm trầm hương trong chiếc lu cổ, Tuyết đem hết tất cả những tấm áo chùng bẩn thỉu đi giặt giũ. Tuyết đã rất ngạc nhiên khi không có ai trong hiệu giặt ủi cao cấp đô thị trông thấy nàng, mặc dù Tuyết đã lên tiếng gọi nhiều lần, cuối cùng, Tuyết đành bỏ chung giỏ đồ giặt của khách và hôm sau lẳng lặng đến lấy. Mỗi tối Tuyết dọn ăn trong phòng riêng của cha cố. Tuyết hay hầm chuột sốt vang với mận Tây Bắc, ngâm với lá nguyệt quế, có khi băm nhỏ chục vắt tươi với hành sống tưới mật trộn sữa làm gỏi, những món cha cố rất thích. Chính lúc trông thấy lại cảnh chính tự tay nàng lột da cóc, Tuyết mới sực nhớ đã quên lạng lấy mật vất bỏ, nhưng rất may giáo sĩ đã chết, nên khi ăn trúng mật cóc ông không chết nữa. Những ngày sống trong nhà thờ, vào ra trên khoảng sân lát đá xanh, trông thấy chiếc bóng của chính nàng nhập vào với bóng Đức Mẹ, Tuyết không ngớt suy nghĩ. Tự trong thâm tâm Tuyết biết De Rhodes lầm lẫn nàng với người đàn bà thành Goa, lỗi do Khái Hưng và Nhất Linh đã không miêu tả nàng rõ rệt, khiến De Rhodes đã chuyển hoán trong vô thức của một bóng ma, nét đẹp riêng của người đàn bà ông si mê thời trẻ lên nhân vật nữ chính của Đời Mưa Gió. Trong thâm tâm Tuyết cũng chịu ơn sâu sa giáo sĩ đã cho nàng thêm một kiếp sống, một kiếp đời, trong một ngôn ngữ khác. Giáo sĩ đã dạy nàng biết thêm tiếng La Tinh và Bồ Đào Nha, cho phép nàng trông thấy những người đàn ông da trắng. Tuyết đã quyết định thôi ăn ở với Chương và ở lại nhà thờ một thời gian phụng dưỡng cha cố, cùng phụ với ông hầu việc Chúa, ít nhất cho đến khi De Rhodes hết chứng bệnh thối ruột gan.

Hôm đầu tiên Tuyết đã ngỡ ngàng trước ánh mắt si mê của giáo sĩ. Ánh mắt đắm đuối của những xác chết không được vuốt mắt, đã khiến nàng đỏ mặt, cùng lúc cảm động vì từ ngày Khái Hưng và Nhất Linh bỏ đi, chưa một người đàn ông nào yêu nàng nhiều như vậy. Trong thâm tâm Tuyết không yêu Chương, và tự trong thâm tâm Tuyết cũng biết Chương không yêu nàng, cả hai đã bắt buộc phải sống chung trong ngôi biệt thự số 84 đường Quan Thánh chỉ vì một lý do duy nhất, Nhất Linh đã bắt buộc họ ăn nằm với nhau. Tuyết đã thù Nhất Linh biết chừng nào, người đàn ông có cái tên Nguyễn Tường Tam mà nàng vẫn hãy còn yêu, còn kính phục và vẫn hãy còn hờn giận đến phút này. Ngay khi mở mắt, bước vào đời, Tuyết đã trông thấy gương mặt ấy, gương mặt đàn ông rắn rỏi, cương nghị và vô cùng trí thức của Nguyễn Tường Tam. Tuyết nhớ nàng đã đưa một bàn tay vuốt nhè nhẹ gò má xương của Nhất Linh, và hình như lúc đó Nhất Linh cũng đã cười nhẹ nhàng. Chính Nhất Linh đã dạy cho nàng cách đi đứng, ăn nói. Chính câu nói Vâng em là Tuyết người chịu ơn của anh, mà Tuyết đã thốt lên với giáo sĩ ngay hôm đầu tiên, do chính tay Nhất Linh viết ở dòng thứ 13 của trang 35 và bắt nàng học thuộc lòng để ứng xử trong mọi tình huống. Tuyết biết nàng đã yêu Nguyễn Tường Tam ngay từ những giòng chữ đầu tiên của Đời Mưa Gió. Thứ tình yêu đầu đời của nữ sinh với thầy giáo, của một cô gái với phụ thân, của một cô em với anh trai, và của cả nhân vật nữ với tác giả. Thứ tình cảm tuyệt đẹp của mọi tình cảm gộp lại gọi là tình yêu. Thời toà soạn còn ở phố Cổ Ngư, Nhất Linh hay đến xem qua bản thảo chưa hoàn tất, Tuyết luôn ngã vào lòng Nguyễn Tường Tam hôn say đắm đôi môi thơm thuốc tẩu, Tuyết sẵn sàng dâng hiến cho Nhất Linh lúc đó, thậm chí những khi Nhất Linh ngồi trước bàn viết, Tuyết chỉ mặc chiếc áo pyjama duy nhất của anh vắt trên thành ghế, không cài cúc đứng tựa bên cạnh xem Nhất Linh miêu tả canh bạc đương diễn ra ở nhà bà Phủ Thanh. Có những đoạn đã khiến nàng cười ngất, cười đến ngã hẳn vào lòng anh Tam, những lúc đó cánh áo pyjama bung mở phô bày thân thể nàng, Tuyết đã chờ dợi biết bao lần anh Tam áp mặt vào ngực mình, hôn lên chiếc bụng phẳng, ôm hôn âu yếm thân thể do chính anh tạo ra, nhưng lần nào Nhất Linh cũng gỡ tay, đỡ nàng dậy, cài lại năm cúc áo và khuyên nàng đi nghỉ. Mấy ngày sau, anh Tam giới thiệu với Tuyết một người đàn ông khác. Ngay hôm gặp gỡ, Tuyết đã bị nụ cười trữ tình của Khái Hưng quyến rũ. Khác Nguyễn Tường Tam, Trần Khánh Dư lãng mạn hơn rất nhiều, chính Khái Hưng đã giắt Tuyết đi mua sắm váy đầm, nước hoa, ví cầm tay và cả đồ lót. Chính Khái Hưng đã dạy cho nàng cách vén chéo áo, cách trang điểm, vẽ mắt, tô môi và truyền dạy tất cả nghệ thuật phân tích tâm lý đàn ông. Ở Khái Hưng sức sống toát ra mời gọi, không câu nệ, cân nhắc và cứng nhắc như Nhất Linh, đặc biệt Khái Hưng cho phép nàng bỏ Chương đi chơi thỉnh thoảng ở đồng quê, không nhất thiết phải ngủ đêm lại ngôi biệt thự số 84 Quan Thánh. Thời kỳ ở Cao Bằng Tuyết vẫn chưa biết rõ mình yêu ai nhiều hơn giữa hai người đàn ông cùng tài hoa lỗi lạc này. Tuyết chỉ biết rõ nàng yêu cả hai, mối tình duy nhất, và Tuyết cũng biết nàng bị ruồng rẫy. Buổi chiều Khái Hưng đến phố Cổ Ngư viết thay cho Nhất Linh và thông báo cho nàng một tin quan trọng, Tuyết phải ăn nằm với Chương tối đó. Tuyết đã khóc hết nước mắt, đã ôm chầm lấy Trần Khánh Dư.

- Anh Dư hãy ngủ với em đi, em muốn người đàn ông đầu tiên là một trong hai anh!

- Tuyết, anh xin lỗi. Anh không thể làm khác, cốt truyện là của anh Tam, anh chỉ được mời viết chung những chương tả tình.

Buồi chiều đó hình như Khái Hưng đã xúc động rất nhiều. Tuyết còn nhớ anh Dư đã hôn môi nàng thật lâu, đã mân mê và hôn đầu ngực nàng thật lâu trước khi dứt khoát đứng lên, bắt nàng vận áo và kêu xe đưa đến số 84 Quan Thánh để ngủ với Chương.

Tuyết bần thần nhặt chiếc khăn san và mặc lại chiếc áo dài thâm tối qua cha cố đã vụng về làm đứt mất một cúc. Những hình ảnh của buổi tối xưng tội vẫn chưa ra khỏi tâm trí. Suốt tối giáo sĩ đã làm phép rửa tội cho nàng vào đạo. Những hôm trước đi chợ lồng thị xã, Tuyết đã nghe một số giáo dân nói giáo sĩ có biệt tài đọc hết quá khứ của những con chiên đến xưng tội, không ai có thể dấu giếm tội lỗi đã phạm. Nàng đã nghĩ xóm đạo nói quá, lúc trả tiền nhưng không ai lấy, đến nỗi nàng phải lấy trộm rau cải, Tuyết hãy còn nghe kể giáo sĩ đọc được cả quá khứ của người chết. Đến tối, quỳ gối trong nhà kín xưng tội, trước tấm lưới chỉ vang hơi thở kiên nhẫn của giáo sĩ, Tuyết hãy còn phân vân không biết bắt đầu từ đâu cuộc đời của một nhân vật tiểu thuyết mà Nhất Linh đã bắt chung chạ với mọi đàn ông. Cho đến lúc tiếng thở cảm thông của De Rhodes trở nên gần sát, ngẩng lên, Tuyết bàng hoàng trước hình ảnh của quá khứ đang ào ạt trở về diễn ra rõ mồn một trong đôi mắt cha cố, đôi mắt chứa chan quá khứ của chính nàng và xanh biếc tất cả những đại dương giáo sĩ đã vượt qua trong suốt hành trình truyền giáo. Chính lúc đó Tuyết đã thảng thốt trông thấy lại cảnh nàng tát tai Nguyễn Tường Tam khi Nhất Linh đến cuối truyện bắt nàng ho lao và trở thành một con điếm.

- Anh đối xử với đàn bà một cách khốn nạn !

Tuyết mắng chửi. Nàng đã tát Nhất Linh tàn nhẫn mạnh đến nỗi đến bây giờ Tuyết hãy còn đau nhức các đốt xương mỗi khi trời trở gió. Tuyết còn muốn tát nữa, nhưng Nguyễn Tường Tam đã chụp lấy tay nàng khoá cứng và mắng bằng giọng đanh thép phũ phàng.

- Cô chỉ là luận đề của tôi, cô không có quyền gì hết để đòi hỏi. Tôi cho cô đi làm điếm là may, để cho cô có một nghề sinh sống, hay cô muốn đi theo Việt Minh? Từ nay trở đi cô đừng tìm tôi nữa, tôi đã xong luận đề của mình. Tôi không có bổn phận gì đối với cô. Thôi cô về đi.

Tuyết đã khóc tức tưởi, như nàng đã khóc hết nước mắt ngày Khái Hưng tản cư. Anh Dư không cho phép nàng đi theo và mãi mãi Tuyết không bao giờ còn gặp lại người đàn ông kỳ tài của tiểu thuyết An Nam này nữa.

Những ngày sau Tuyết làm tình với Hoàng Đạo ở phố Cổ Ngư để trả thù Nhất Linh. Anh Tam bỏ nàng, rời Hà Nội sang Trung Hoa đi làm một cuộc cách mạng nào đó mà Tuyết không sao hiểu. Buổi tối khuya khoắt có những cánh đào dịp Tết đang rụng rơi, Tuyết bắt gặp Hoàng Đạo đang đọc Đời Mưa Gió. Trong lòng Tuyết hãy còn đầy rẫy những giận dữ thù hận Nhất Linh đã tệ bạc, xúc phạm và nhất quyết phải trả thù làm một điều gì hoen ố thanh danh của Nguyễn Tường Tam. Tuyết ngắm Hoàng Đạo thể thao và khoẻ mạnh. Không đợi người thanh niên lên tiếng, Tuyết cởi bỏ y phục, chiếc áo dài Cát Tường Nhất Linh luôn bắt nàng mặc mỗi khi ra phố, chiếc quần lót kiểu Tây mỏng manh Khái Hưng mua tặng, Tuyết thích khoả thân trước sự kinh ngạc của đàn ông và biết rõ thân thể nàng toát ra cám dỗ dâm dục vì đã được tạo ra cho một luận đề đả phá dâm đãng. Tuyết đã chống hai tay xuống bàn viết của Nhất Linh, cho Hoàng Đạo xâm nhập. Tuyết thích làm tình với những người đàn ông không thấy mặt, cho phép nàng mường tượng đến gương mặt của anh Tam, anh Dư. Hoàng Đạo sau ân ái, gấp sách bỏ đi lặng lẽ, Tuyết lau những vết sữa trên đùi bằng chiếc khăn tay của Thạch Lam, người em trai khác của Nguyễn Tường Tam. Một lần Tuyết đã bắt gặp Thạch Lam trên chiếc giường của Nhất Linh. Thạch Lam đọc say mê những phác thảo của anh Tam. Thạch Lam mang nét trong trắng, hồn nhiên vô tư của những nụ cúc còn e ấp. Tuyết theo dõi kín đáo người thanh niên trẻ tài hoa, mà nàng biết, chỉ cần nhìn thoáng qua, chưa hề biết đến thân xác phụ nữ. Trên chiếc giường trải drap trắng tinh của anh Tam, Thạch Lam đọc miên man Đời Mưa Gió. Lúc đó Tuyết đã bắt đầu có kinh nghiệm, mỗi khi người đọc say mê tiểu thuyết, cảm nhân vật, nàng có thể hoá thân trở thành người thật. Tuyết đã hiện ra dưới chân giường Nhất Linh mà Thạch Lam không trông thấy. Gương mặt anh mang nét xanh xao của những người ốm nặng. Tuyết có nghe anh Tam than Nguyễn Tường Lân ho lao, nhưng chứng kiến tận mắt đôi môi khô khốc, tròng mắt võ vàng của tuổi trẻ khiến nàng não lòng. Thạch Lam đọc chăm chú đoạn nàng ăn nằm với Chương. Tuyết bỉ ổi anh giáo Chương nhưng cùng lúc cảm nhận ở Thạch Lam một đòi hỏi thân xác mà nàng biết, chưa hề toại nguyện. Tuyết đặt tay lên ống chân của Thạch Lam, ống chân thẳng, ốm, mà nàng biết đã đi khắp cùng ba mươi sáu phố phường. Tuyết vuốt ve Thạch Lam cho đến khi thân thể anh trở nên mạnh mẽ, gân guốc tuồng như Thạch Lam chưa bao giờ đau yếu. Lúc uống chất lỏng ấm trào ra từ thân thể người thanh niên, Tuyết có đôi chút mặc cảm phạm tội, nhưng Nhất Linh đã muốn nàng làm một con điếm thì trước nhất anh Tam phải chấp nhận nàng là một con điếm của gia đình anh. Vị sữa của Thạch Lam khác với Hoàng Đạo, trong trẻo, thơm hương bún chả Hàng Mành, xôi gấc Cấm Chỉ, và ốc nóng Hàng Gai, tất cả hoà quyện tuồng mùi vị thức ăn. Thạch Lam mất đi, Tuyết chẳng bao giờ còn được nếm vị bún thanh cảnh của Hà Nội nữa.

Tiếng gió ầm ào trổi lên mạnh mẽ, rõ ràng có một vật nặng trĩu đang rơi xuống nóc nhà thờ với sức hút nghiệt ngã của trọng lực. Gió mỗi lúc một thổi thốc, gào rú, kéo đập những tấm phên rền rĩ như nhà thờ có đám. Tuyết quyết định lên gác chuông để trông cho rõ những gì đang xẩy ra trong pháo đài. Một ánh lửa đỏ loé qua ô cửa tò vò khiến nàng hốt hoảng. Tia chớp hực lửa nháng lên gương mặt đấng Chirst đang đau đớn vùng vẫy trên thập tự giá, nỗi đớn đau kinh dị của thân xác bị đóng đinh. Nỗi đau của Jésus Christ khiến Tuyết hãi hùng hụt chân. Các nấc thang gỗ cổ xưa vang những tiếng rên như giam hãm những linh hồn khẩn khoảng van nài trên mỗi bậc thang càng làm nàng sợ hãi. Cha cố đã kể nhà thờ Cao Bằng xây bằng những viên gạch đã có từ lâu lắm, từ những thành lũy của Mạc Đăng Dung, mỗi thỏi gạch đều chứa mang âm hồn An Nam tắm máu chiến tranh và máu người. Tuyết cố gắng đi thật nhanh lên nóc chuông nhưng những bậc thang trơn trợt nhấp nhô rung chuyển tựa có những bàn tay vô hình cứ nắm chắc lấy cổ chân nàng. Tuyết bắt đầu trông rõ những cuồng lửa từ những đỉnh núi phía tây sông Hiểm đang bay đến nhà thờ. Tuyết linh tính chuyện gì đó sắp xẩy đến, chắc chắn sắp xẩy đến một chuyện gì như đã xẩy đến cho nàng cách đây vài tuần khi trung úy De Lattre bước chân vào nhà thờ.

Tuyết đã nhận ra ngay viên sĩ quan sắp chết. Chỉ có những người đàn ông sắp chết mới không còn một chút ham muốn tình dục nào trong ánh mắt. Chỉ có những người đàn ông sắp mệnh chung mới mang vẻ sầu thảm buồn rũ rượi và dương vật suy dinh dưỡng mềm lả như vậy. Sau lúc hốt hoảng, Tuyết đã giải bầy cho Bernard De Lattre hiểu lá số tử vi An Nam còn phải đi kèm với tướng mạo, đức năng, chỉ tay và đức năng có thể thắng số. Các thầy An Nam không thể coi tướng Tây dựa trên chuẩn Á Đông, đo nhân trung Tây Phương bằng thước đo Trung Hoa. Tuyết chỉ không thể giải thích được những quẻ xăm kỳ lạ mang cùng một chú giải, nhưng nàng thấy rõ đã giải thoát viên sĩ quan khỏi nỗi sợ hãi chết chóc. Thật sự Tuyết cũng không biết mình trúng hay sai và Bernard sẽ chết hay không, nàng chỉ biết cần phải giúp đỡ người thanh niên da trắng thoát khỏi cơn tuyệt vọng khốn quẫn. Buổi trưa đó, bằng kinh nghiệm của Đời Mưa Gió, Tuyết giúp Bernard de Lattre tìm lại khả năng giao hợp mà nàng biết, với những người đàn ông trẻ đi tìm tình yêu thân xác lần đầu tiên, xóm thổ không phải là chốn thích hợp.

Lúc làm tình với trung úy De Lattre, Tuyết cảm thấy thật sung sướng, đã lâu nàng chưa làm tình với ai từ khi lên thị trấn Cao Bằng sống trong giáo đường hoang vắng. Nhưng Tuyết sung sướng hơn hết vì đã có một người khác, ngoài cha cố trông thấy nàng. Tuyết linh cảm kiếp đời mà giáo sĩ đem đến cho nàng, sẽ phong phú bất ngờ hơn rất nhiều kiếp đời cũ. Tuyết cũng khám phá đàn ông da trắng làm tình khác hẳn những gì nàng đã biết. Trước đây, Tuyết không hề cảm giác gì rõ rệt mỗi khi luyến ái với Chương, do Nhất Linh và Khái Hưng không miêu tả kỹ. Làm tình với Bernard, Tuyết thấy rõ người thanh niên, dù chỉ mới lần đầu đã kiểm soát hơi thở của anh, đã chờ đợi chia sẻ thân xác của cả hai, tựa cả hai cùng chống một chiếc thang hai chân giữa khoảng không chơi vơi, cùng leo lên, cùng đợi nhau và cố nghiêng ngả kềm hãm bấu víu lẫn nhau để chiếc thang khỏi chao đảo ngã đổ, để cùng đi lên đến tận trời. Lần đầu tiên Tuyết nếm vị sữa đậm sệt như cặn rượu chát.

Vị sữa của Bernard khác hẵn vị sữa của cha cố. Một hôm mang thức ăn vào phòng giáo sĩ, Tuyết nhận ra áo chùng dù được giặt ủi thơm tho đã bắt đầu khắm. Từ hôm Tuyết bước chân ra khỏi Đời Mưa Gió, đức cha đã vui hơn, chứng bệnh buồn chín thối ruột gan đã thuyên giảm, nhưng chưa dứt hẳn, nước vàng vẫn chảy ra ở dương vật. Những lần phụ Alexandre phiên dịch tiểu thuyết, Tuyết cảm ở giáo sĩ một ước muốn thầm kín mà ông không thể nói ra, không thể viết thành lời, không thể diễn tả cách nào khác ngoài dịch tăm tắp trên các trang giấy những điều văn chương diễn tả mạch lạc, những điều mà anh Dư đã nói với Tuyết rất nhiều lần. Chức năng của một nhân vật nữ ngoài hấp dẫn bạn đọc, còn phải thoả mãn ẩn ức sinh lý của tác giả. Những lúc đó, cha cố chỉ dám ngửng lên nhìn Tuyết lén lút, lâu lâu kêu Blời ơi, rồi lại ngã vật xuống đất ngất xỉu. Những lúc đó, Tuyết cố gắng đỡ đức cha lên giường, bôi dầu con hổ, đánh gió và xoa bóp cho ông, cho máu huyết chảy đều lại, mặc dầu chính nàng cũng tự hỏi không biết trong xác chết cha cố còn giọt máu nào không nữa. Những lúc Alexandre de Rhodes bất tỉnh, Tuyết khám phá điều kỳ lạ, bàn tay nàng xoa nắn đến đâu da dẻ ông căng trở lại, từ vết nhăn ba trăm năm đến nếp thịt bủng nhão nhoẹt cứ ngón tay nàng chạm vào vụt thẳng ra, săn chắc, cứng cáp, cả vẻ mặt cha cố cũng trẻ ra cho đến khi ông trở thành một thanh niên cao lớn không còn khòm lưng nhưng mang vẻ đẹp quyến rũ của hiệp sĩ Thập Tự thời xa xưa. Cả mái tóc rũ bạc trắng xoá của giáo sĩ, chỉ cần Tuyết vuốt lên trở thành óng ánh sắc vàng tươi lấp lánh kỳ lạ. Nhưng tất cả trẻ trung đó suy giảm dần trong ngày, đến chiều tối trở nên già nua cũ kỹ và nhăn nheo của một ông lão đã chết lâu. Cứ thế mỗi tối, Tuyết xoa bóp tẩm quất cho cha cố trở lại cường tráng trong 24 tiếng, cho đến một đêm, Tuyết quyết định chữa dứt di căn của chứng bệnh thối ruột gan, như nàng đã chữa cho trung úy De Lattre. Tuyết mút dương vật cha cố, hút hết các chất lỏng vàng hôi thối rồi nhổ xuống chậu gốm, cho đến khi chậu gốm đầy ắp phải đem đổ ở gốc sữa. Mỗi tối Alexandre de Rhodes rên la vì thân thể ông căn phồng lên đến mức áo chùng rách bươm, và mỗi khi Tuyết mút quá mạnh, bụng giáo sĩ teo tọp hẳn lại tựa tất cả ruột gan đều trôi vào miệng nàng. Tuyết cũng xấu hổ, biết nàng làm chuyện dơ bẩn, thiếu kính trọng, thiếu đạo đức của một con chiên, nhưng Tuyết quyết tâm chữa cho bằng hết chứng cô buồn giáo sĩ. Nhất Linh đã bắt nàng làm một con điếm không nhân cách, nhưng Tuyết vẫn là một người đàn bà giàu tình thương, lòng trắc ẩn. Tuyết muốn trả ân nghĩa đã thọ ơn cha cố. Mỗi tối nàng miệt mài hút hết chất nước vàng cho đến một đêm chất lỏng trở nên trắng ấm thơm mùi lúa mạch nhuyễn bột như vị bánh thánh Alexandre de Rhodes vẫn cho nàng ngậm mỗi sáng chủ nhật rước lễ trong nhà nguyện. Kể từ sau đêm ấy, giáo sĩ hoàn toàn khỏi bệnh, ông trở nên khoẻ mạnh và trẻ măng như một vị linh mục vừa tốt nghiệp trường thần học.

Về sau khi thành thân trong âm thầm lén lút với cha cố, Tuyết vẫn không quên tiếng chuông kinh hoảng của buổi sáng đó. Buổi sáng có những gào la thống thiết trầm thống của gió và tiếng chuông co giật từng cơn tựa các quả chuông phát khùng đánh loạn lẫn nhau. Tiếng chuông nhức nhối tuông những bài kinh La ngữ hỗn độn. Tiếng chuông ma quái khiến người nghe ý thức rõ rệt cuộc đời mình trước và sau đó. Trước, Tuyết có một quá khứ tiểu thuyết An Nam, sau, nàng trở thành một nhân vật lấy Tây và không còn gì giống như trước nữa.

Tất cả xẩy đến khi Tuyết bước chân lên bậc thang chót, những quầng lửa bay đến sát nhà thờ đến nỗi nóc chuông đỏ như được thắp sáng nến. Tuyết cất tiếng gọi Alex ? nhưng chỉ có tiếng gió bật tiếng kêu của chính nàng rơi vỡ vụn trên các nấc thang. Chính lúc đó Tuyết nghe thấy tiếng chuông gióng từng cơn, rũ từng hồi điên dại làm như các quả chuông vụt lên cơn động kinh va đánh vào nhau liên hồi. Tiếng chuông ray rứt, phạm tội, đầy kinh động, đặc biệt vang vọng sám hối của con người trước thuợng đế. Tuyết lấy hết can đảm bước qua ngạch đá. Quang cảnh diễn ra hãi hùng như quang cảnh ở địa ngục. Các quầng lửa gào xé chung quanh vòm mái, các tia lửa bắn xẹt vung vãi cháy rơi rớt gió thổi tốc lên từng làn tro thiêu đốt các tấm rèm nhung đang oằn xém. Lẫn trong khói than mù mịt bên dưới quả chuông chao đảo là thân thể trần truồng của Alexandre de Rhodes đang trì kéo sợi dây thừng.

- Blời ơi ! Tận thế rồi !

Alexandre kêu lên tuyệt vọng. Tiếng chuông xô đẩy inh ỏi tựa muốn đập vỡ nhà thờ, rạn nứt các vách đá. Tuyết trông thấy rõ Alexandre không còn kiểm soát nổi đôi tay của anh, lúc này đang treo níu vào dây chuông từng lúc nhấc bổng đong đưa rồi thả xuống kéo lê liên tục. Không khí nồng nặc mùi thiên tai, thứ mùi khét mà Tuyết ngửi ra ngay tức khắc ở làn hương đầu tiên. Tuyết lao đến ôm Alexandre cố kéo anh thoát khỏi cơn động kinh của quả chuông. Lúc ôm vòng lấy lưng, dù kinh hãi, Tuyết vẫn kịp nhận ra nàng đang ôm xương thịt tươi rói đã lấp đầy vong hồn giáo sĩ .

Đó là buổi sáng mà tất cả mọi giáo dân sinh sống trong pháo đài đều bị đánh thức bởi tiếng chuông tận thế đổ dồn ầm ĩ từ nhà thờ chính toà Cao Bằng. Cũng là buối sáng mở màn chiến dịch đường biên giới. Nhưng ít ai lúc đó có khả năng mường tượng hậu quả của trận đánh, tất cả chỉ thức giấc trong kinh sợ của tiếng chuông gọi hồn. Đó là buổi sáng tin Đồng Khê thất thủ réo về thị trấn như một lời nguyền.





*
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2005, 02:53 AM   #28
joker25
Khách
 
Bài : n/a
Default

Thật ra tin căn cứ Đồng Khê với hai đại đội tán binh Marốc, một đại đội thân binh An Nam, tăng cường đại đội Lê Dương của trung úy Bernard de Lattre bị tràn ngập đã bay về bộ chỉ huy pháo đài từ chiều hôm trước. Suốt đêm, các sĩ quan tham mưu của trung đoàn 3 Lê Dương sửng sốt chứng kiến một cảnh tượng lạ lẫm. Các áng mây đen ở đâu cứ trôi đùn vào bộ chỉ huy, mỗi lúc một nhiều, theo cường độ của các bản tin hấp hối đánh đi từ Đồng Khê. Đến chiều tối trở thành cơn mưa bão gió gào, sấm chớp liên tục. Đại tá Antoine Marie Pierre Charton, lãnh chúa Cao Bằng, tư lệnh trung đoàn ngồi chết lặng dưới cơn giông mỗi lúc một lớn. Sấm sét mây đen vần vũ với những tia chớp loé không ngừng trút nước từ trần bê tông kiên cố dầy năm thước của căn hầm chỉ huy chôn chìm sâu dưới lòng đất. Charton ngồi bất động dưới cơn mưa tầm tã trước phóng đồ hành quân. Gương mặt ông biến dạng móp méo thay đổi từng lúc trước các báo cáo tự động sang trang, lật mở từng phúc trình tối tăm mà không một ai đụng đến. Suốt đêm viên đại tá chứng kiến những hiện tượng quái dị. Vong các sĩ quan tử trận Đồng Khê cứ lần lượt lê lết hiện về, trình diện cấp bậc, đưa bảng trận liệt khai báo quân số tử vong, mất tích, rồi đưa giấy khai tử chờ ký nhận tử tuất. Bàn làm việc của đại tá Charton bê bết máu, làm như tất cả thương vong ở Đồng Khê đều đã xẩy ra trên bản đồ tham mưu. Có lúc viên đại tá cũng bất ngờ trông thấy cố thống chế Ney, tư lệnh khu biên thùy đông bắc từ Lạng Sơn cũng hiện ra từng lúc, bất chợt hối thúc phản kích rồi đột ngột biến mất. Tự trong thâm tâm Charton không phục Ney, mặc dù viên thống chế đã tham dự các trận đánh lẫy lừng Iéna, Austerlitz bên cạnh hoàng đế Napoléon đệ nhất. Nhưng Ney không sao hiểu cách chuyển quân như sóng rừng của sư đoàn 308, không còn di chuyển đội hình ô vuông ban ngày, và Ney cũng không hiểu những quy ước chiến tranh do vong hồn Karl Von Clausewitz đang tiếp tục giảng dạy tại các trường đại học quân sự Tây Phương đã không còn được Việt Minh tuân thủ. Charton tin chỉ một mình ông khám phá ra chiến thuật Việt Minh. Lối đánh Phật giáo, chết đi sống lại luân hồi liên tục, khiến với quân số không tăng viện, trung đoàn Thủ Đô vẫn có thể xung phong biển người, hết lớp này đến lớp khác, mà các đại liên Bren, Browning, Hotchkiss bốn nòng không thể chận đứng. Bộ đội Việt Minh không thể tử vong.

Gương mặt Charton tím tái. Các sĩ quan ban 3 có cảm giác mây đen đang bốc từ đầu ông, cả những lằn chớp sấm sét cũng nháng lên từ nỗi giận dữ phẫn uất bên trong mình ông. Chỉ cơn mưa lạnh lẽo trút nước chảy ra từ nỗi sợ hãi vãi đái mà viên đại tá cố dấu, nhưng không sao kềm hãm. Đồng Khê là cánh cửa cuối cùng trước Cao Bằng. Chiếm Đồng Khê, Việt Minh chặt nốt cánh tay nối Lạng Sơn biến pháo đài thành tên khổng lồ trần trụi chỉ còn trơ chiếc đầu nhô lên khỏi mặt đất đợi chém. Chưa bao giờ Charton cảm thấy ngày tận thế gần gũi, kề cận. Phòng nhì buổi chiều báo cáo, có tin Jésus Christ sống lại ở Đồng Đăng, điều đó có nghĩa ngày phán xét cuối cùng sắp xẩy đến. Viên đại tá chết cứng dưới cơn mưa bão, ông cố nhớ xem mình có phạm tội lỗi gì với các sắc tộc thiểu số Mường, Mán, Nùng, Thổ, nhưng ông không sao cử động nhúc nhích tay chân hay ban một mệnh lệnh nào, cho đến lúc nước mưa dâng từ từ ngập đến gối, quá thắt lưng, rồi dâng kín trần hầm đến mức các sĩ quan tham mưu phải thở bằng ống hút rồi dùng bình dưỡng khí dành riêng cho biệt kích thủy. Chỉ đến tảng sáng, khi thiếu tá Forget tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn III/ 3è REI bất ngờ xuống hầm chỉ huy xin lệnh, mở cửa khiến nước thoát ra ngoài giải cứu tất cả, cùng lúc đem theo những ráng hồng rạng rỡ đầu tiên của ngày, đại tá Charton mới bừng tỉnh. Đã từ lâu, theo thói quen trong chiến tranh Đông Dương, đêm thuộc về Satan, ngày thuộc về thượng đế, và thượng đế đứng về phiùa quân đoàn viễn chinh.

Antoine Marie Pierre Charton lấy lại tinh thần, ông quyết định phản kích tái chiếm Đồng Khê bằng tiểu đoàn Trận Vong của cố thiếu tá Henry Rivière, sĩ quan thâm niên kinh nghiệm trận mạc và nổi tiếng can trường. Chính lúc đó, khi bước chân ra khỏi hầm, vắt bộ quân phục còn ướt mưa và khắm nước tiểu, đại tá Charton đã bàng hoàng nghe thấy tiếng chuông lanh lảnh buốt sắc đổ thốc tháo từ nhà thờ Cao Bằng. Tiếng chuông lạnh lẽo gọi hồn của địa ngục mà Charton biết dành riêng cho linh hồn ông. Lúc đó xẩy ra một hiện tượng kỳ quái. Linh hồn đại tá Charton quá sợ hãi đã xuất ra khỏi xác chạy trốn tìm chỗ trú ẩn dưới hầm trú pháo. Các sĩ quan tham mưu đã phải rượt theo bắt lại và vất vả nhấn linh hồn viên đại tá trở vào trong thân xác của chính ông. Phải mất nhiều phút đại tá Charton mới hoàn hồn và lấy lại phong thái chỉ huy. Buổi sáng đó, nhật ký hành quân trung đoàn ghi rõ, tin thất thủ Đồng Khê bay về pháo đài khiến bộ chỉ huy trung đoàn hoàn toàn tê liệt, nghẹt thở. Cũng buổi sáng đó, Vương Thừa Vũ, tư lệnh sư đoàn 308 đã điện lên tổng bộ Việt Minh tin chiến thắng: Đại Đoàn Quân

Tiên Phong giáng những đòn sấm sét vào Đồng Khê khiến sĩ quan Pháp mất hồn. Đó là sáng 30 tháng 5, ba ngày sau trận Đồng Khê khai diễn. Cũng là buổi sáng tin đấng Christ xuất hiện ở Đồng Đăng được kiểm chứng.





*





Louise Marie de Bourbon là người đàn bà thứ hai trong pháo đài nghe thấy tiếng chuông nhà thờ. Ngay tiếng chuông đầu tiên, dì phước đã biết đó là tiếng chuông ma quỷ. Tiếng chuông mênh mang đánh đi thật xa vang vọng đến mất hút rồi trở về co giật dạ con từng cơn của một cổ tử cung nào đó đang co thắt sinh nở. Tiếng chuông nức nở tựa tiếng khóc, đôi lúc gấp rút hối hả liên tục rồi chửng lại bất ngờ thành khoảng trống âm u. Giữa hai khoảng chuông chen tiếng rên la quái dị, nửa đau đớn, vừa thích thú khoái lạc của sự sống đang dẫy dụa cựa quậy trong tử cung một người đàn bà. Louise choàng ra khỏi giấc ngủ ác mộng. Dì phước cũng không hiểu vì đâu dì đã nghe ra trong tiếng chuông những hình ảnh quái thai ghê rợn. Tối qua, cho đến trước tiếng chuông, Louise đã chiêm bao thật đẹp. Hình ảnh đấng Christ hiển linh trở về đứng trước đầu giường thật đến nỗi Louise tưởng chừng chỉ cần đưa tay ra, nàng có thể chạm vào thân thể còn in vết gai, lỗ chỗ vết giáo đâm xuyên hông. Ánh mắt Jésus buồn rười rượi, nỗi buồn nén lặng mà dì phước đã có lần trông thấy trong đôi mắt cha cố, thứ nỗi buồn tê tái, chín dại ruột gan không thành lời. Louise tỉnh giấc khi hình ảnh đấng Christ vỡ vụn bởi tiếng chuông. Tất cả thân thể Jésus tan rã trong tiếng ngân nga, làm như quả chuông đánh vào đâu, mình thánh chúa vỡ tan đến đó. Louise vã mồ hôi. Đã lâu Cao Bằng không có những trận nóng sáng hầm hơi thiêu đốt. Đã lâu Louise không có những giấc ngủ khắc khoải ham muốn thầm kín. Từ rất lâu nàng không còn trông thấy lại cảnh Jésus Christ đứng ở đầu giường mình đưa tay giắt đưa vào cuộc đời nữ tu buồn chán. Lúc còn thiếu nữ, Louise đã trông thấy đấng Christ thường xuyên, sáng ngời hào quang, hằng đêm đón đưa, đều đặn mỗi tối, đến nỗi nàng không cần có bạn trai, chỉ cần đợi đến khuya, Jésus hiện ra và nàng có thể tâm sự với Chúa thâu đêm.

Những ngày trước tiếng chuông, ở Cao Bằng, có tin đồn Jésus Christ sống lại. Tin đồn vang rân khiến dì phước hoang mang, đến nỗi dì Louise phải xuống sở mật thám Pháp hỏi cho ra lẽ. Chính cố đại úy De La Marek, chánh phòng nhì Cao Bằng, viên sĩ quan đã từng si mê đeo đuổi dì phước suốt mấy năm, đã đưa cho Louise xem các phiếu tối mật ghi chép cùng một sự kiện. Từ hôm Đồng Khê bị vây, giáo dân sinh sống dọc đường số 4 trông thấy một người đàn ông Trung Đông tóc vàng đứng đón xe ở ngã ba Đồng Đăng. Người đàn ông thuộc chủng tộc Do Thái, mặc áo sô, đội mũ gai, có mái tóc dài toả chiếu tất cả nắng của buổi chiều. Mái tóc vàng kim óng ánh phát ánh sáng thay mặt trời và trong đôi mắt xanh chứa chan bình an của sự vật, mỗi khi nhìn về hướng nào, tất cả chim muông từ muôn phía bay xuyên suốt cây rừng về đậu nơi hướng ấy. Cả những quả mìn đắp mô cũng bật kíp lăn đến cạnh bầy chim vô hại. Các xóm đạo đã thay nhau đem thức ăn đặt dưới chân, nhưng trái cây không hề vơi, chỉ nhiều thêm và cũng không hề uá. Người đàn ông kiên nhẫn đợi xe dưới mưa suốt nhiều ngày mặc dù đường thuộc địa số 4 bị Việt Minh chốt chặn tắt nghẽn không còn xe qua lại. Đến ngày thứ sáu, người đàn ông tóc vàng trạc ba mươi ba tuổi, đã khiến mưa bão chấm dứt bằng cách xua tan những cuộn mây den. Nền trời trở nên trong vắt, xanh biển, cho phép các khu trục cơ P-39 King Cobra từ Hà Nội lên đánh bom giải toả áp lực Việt Minh. Ngày thứ bảy, người đàn ông áo trắng lên chuyến quân xa của binh đoàn tác chiến Le Page với bốn tiểu đoàn Tabors từ Lạng Sơn, vượt Kỳ Lừa đánh lên giải vây cho Đồng Khê. Binh đoàn Le Page bị chận đánh ở Thất Khê, không một tiểu đoàn nào qua lọt đèo Lủng Phài. Điều kỳ quặc chiếc GMC bị phục kích tan nát ở khúc Ngườn Kim, xác tài xế và binh lính Marốc ngổn ngang nhưng vẫn tiếp tục chạy xuyên rừng núi cho đến tận Cao Bằng. Quân cảnh Lê Dương tìm thấy xác chiếc quân xa vất ở trước cửa chợ lồng thị xã với bốn bánh xe cháy đen đủi, còn bốc khói, nhưng không một dấu vết nào của đấng Kitô.

Louise tin chắc Jésus đã đến Cao Bằng. Không phải ngẫu nhiên đấng Christ xuống thế gian làm người cứu chuộc nhân loại lần nữa giữa lúc pháo đài bị vây hãm và Việt Minh sắp tổng tấn công. Bằng bản năng nữ tu, Louise tin tưởng trong sâu kín, việc đấng Christ sống dậy liên quan mật thiết đến tiếng chuông ma quỷ của nhà thờ. Những ngày gần đây, dì phước không còn nhận ra cha cố, giáo sĩ đã thay đổi hoàn toàn, từ phục sức thanh lịch thơm tho, dáng dấp trẻ trung tươi mát, đến nụ cười thường khi héo hắt của đức cha cũng trở nên nồng thắm làm như có dính vết son môi. Giống có kẻ nào khác đội lốt cha cố, chỉ có thể là Satan, đã ngự trị nhà thờ. Hôm đến thăm cha De Rhodes, Louise đã lạ lẫm nhìn tượng Đức Mẹ sáng lóng lánh được chùi rửa sơn phết cẩn thận, và đặc biệt có ai đã tỉ mỉ trang điểm cô dâu cho gương mặt đức mẹ Maria bình thường không son phấn. Giác quan thứ sáu khiến Louise linh tính có sự hiện diện của một người đàn bà nào đó sinh sống trong nhà thờ mà cố đạo che dấu. Chỉ cần ngửi thoáng rèm nhung, dì phước cũng có thể đoán được mùi nước hoa đĩ thõa của một phụ nữ quyến rũ vừa bước qua, chưa khuất, còn đâu đó.

Tiếng chuông vẫn đổ từng cơn khủng hoảng trộn lẫn những rên la gần như tiếng kêu đau trào mật của sản phụ đang sinh nở. Tiếng chuông bấu chặt tưởng chừng có thể rứt từng đường gân dưới chân tóc. Louise bước nhanh ra khỏi giường. Dì phước mặc vội áo tu, lúc đội khăn, không hiểu do đâu dì Louise nhìn ngắm mình kỹ hơn trong gương, mái tóc hung óng mượt cô bé Louise Marie đã cắt đi ngày quyết định bước chân vào sống vĩnh viễn giữa bốn bức tường đá đã mọc dài trở lại. Hai tháng nay, từ lúc các cô gái Mèo, sau khi làm tình với trung úy De Lattre nôn mửa rồi thụ thai, dì phước không ngớt phải đi thăm thai đến không còn thì giờ cắt tóc. Mái tóc hung óng lượn trong gương khiến Louise vụt thấy mình trẻ lại, còn nguyên vẹn thể xác xinh đẹp của thời con gái. Đã biết bao lần, Louise nhìn lên tượng Chúa tự hỏi tại sao? Và cũng biết bao lần ngẩng đầu nhìn ngắm đấng Christ dang hai tay trong nỗi đớn đau cùng cực của thân xác, Louise đều bằng lòng với chọn lựa của chính mình. Trong sâu thẳm, dì phước yêu xót xa người đàn ông có gương mặt rất lành cùng khôi ngô tuấn tú chịu thương khó, cùng trong sâu kín tận đáy linh hồn, Louise không bao giờ quên cách nắm tay thân mật ấm áp, dìu dặt yêu thương, nhẹ nhàng của Jésus khi bước chân vào phòng nàng hằng đêm thiết tha, khẩn nài nàng hiến dâng cho Chúa. Ngày đó, cô bé Louise Marie ngây thơ đã xiêu lòng cắt đi mái tóc hung như một thề uớc.

Tiếng kêu rú kinh hãi của mẹ bề trên vang lên từ trong vách tường khiến Louise hốt hoảng đâm bổ sang phòng bên. Dì phước sửng sốt trước cảnh mẹ Thérèse đã trăm tuổi, bán thân bất toại, không còn đi đứng được đã có thể tự mình rời ghế lăn chui xuống gậm giường trốn tránh. Lúc dì phước cúi xuống, mẹ Thérèse chắp hai tay van vái những kẻ nào đó vụt thoáng hiện về trong trí não đã cũ kỹ, tưởng chừng đã tắt lịm chỉ còn ánh lên chút tinh anh từng lúc, từng chập mỗi khi Louise đút sữa cho mẹ ở mỗi bữa ăn. Chỉ trong giây khắc, dì phước nhận ra chính tiếng chuông quỷ ám đã xô đẩy mẹ bề trên vào tình trạng hỗn loạn tâm thần. Chính tiếng chuông ma quái đã đánh thức những hình ảnh loã lồ cách đây tám mươi năm khi mẹ bề trên hãy còn là nữ truyền giáo thơ ngây cùng bước chân xuống chiến hạm l'Espingole với hải quân đại uý Francis Garnier và cùng rơi vào ổ phục kích của quân Cờ Đen dưới chân Ô Cầu Giấy. Mẹ Thérèse trong những phút tỉnh táo hiếm hoi thường kể lại cảnh đại úy Garnier bị chém đứt đầu, cắt đứt hai bàn tay bày trên lòng đường trong lúc nữ truyền giáo trẻ bị Lưu Vĩnh Phúc và quân Cờ Đen bắt về hang động Hạ Long thay nhau hãm hiếp suốt chín ngày chín đêm, cho đến lúc đám giặc không còn sức ngất xỉu, và cô truyền giáo Thérèse đã trốn thoát đi bộ một trăm hai mươi cây số về đến Ô Quan Chưởng tá túc nhà lái buôn Jean Dupuis. Chính mẹ Thérèse cũng không hiểu làm sao mẹ đã có sức khoẻ để chịu đừng ngần ấy giặc Cờ Đen, rồi đi bộ một mình không ăn uống, không ngơi nghỉ. Chỉ có thể giải thích nhờ đàn ông Á châu nhỏ người yếu sức, nhưng mẹ Thérèse vẫn tin tưởng chính nhờ ơn trên đã thêm sức cho mẹ đủ nghị lực vượt thoát. Chính niềm tin vào đấng tối cao đã khiến mẹ quyết tâm tu ở dòng Carmen cho đến ngày được giáo hội La Mã điều lên Cao Bằng rồi già nua bệnh tật.

Dì Louise cúi khom cố lôi mẹ ra khỏi gậm giường.

- Em lậy anh Phúc !

Mẹ Thérèse rên lên, không ngớt lập đi lập lại tên của người đàn ông da vàng thô bạo, nỗi ám ảnh kinh hoàng của mọi kiều dân Pháp. Lưu Vĩnh Phúc, kẻ đã chém chết thiếu tá Rivière và đại úy Garnier mà Louise vẫn thường nghe nhắc. Không hiểu vì đâu, lúc đó, những hình ảnh vùi dập xâu xé hãm hiếp tập thể đang diễn ra trong đôi mắt khiếp hãi của mẹ Thérèse bình thường mù loà không còn ánh sáng, đã khiến dì phước vụt đỏ mặt. Louise vội vã bế mẹ lên ghế, đắp chăn bông, lấy khăn thấm nước mát đắp lên mặt, cố dỗ giấc cho mẹ thiu thiu ngủ trôi vào khoảng không hư vô, không thời gian, không tương lai, không thực tại.

Louise bước ra khỏi chủng viện khi trời hừng đông.





*





Đó là buổi sáng Alexandre Lucien Abel de Rhodes chép trong nhật ký ba chữ La Tinh Aléa Jacta Est ! mang nghĩa định mệnh đã an bài mà những ai tham khảo thư khố toà thánh La Mã về sau, hãy còn nhận ra nét chữ thảo tài hoa, rắn rỏi vừa bay bướm của giáo sĩ. Nhật ký Hành Trình Truyền Giáo của De Rhodes sau này được xuất bản, chỉ bao gồm ba phần Goa, Xứ Đàng Trong và Xứ Đàng Ngoài, khởi đi từ năm 1619 khi ông gặp thiếu nữ có mái tóc đen và chấm dứt lúc ông rời An Nam vĩnh viễn. Những đoạn sau khi chết, chiếm 4/5 tập nhật ký, đặc biệt thời gian ở Cao Bằng hoàn toàn bị hội Thừa Sai dập xoá. Trong bản gốc, số đăng ký quốc hội Vatican, các chương ghi lại đời sống vợ chồng với Tuyết, chỉ còn mỗi ba chữ Aléa Jacta Est, các ký tự khác đều bị thuốc tẩy giặt trắng xoá loang lổ ố vàng. Những chữ li ti, chi chít, khi mất khi hiện, gần như được viết trên bụi mà nửa thế kỷ sau, chỉ những nhà văn am tường kỹ thuật hiện thực huyền ảo mới còn có thể chú giải.

Nhưng buổi sáng đó, Alexandre de Rhodes đã viết tăm tắp trong nhật ký, những sự kiện dồn dập xẩy đến trong kiếp ma của kiếp đời ông. Từ ngày thiếu nữ thành Goa xuất hiện, đầy rẫy những hiện tượng mà De Rhodes không sao có thể giải thích. Từ những cánh buồm trắng Y Pha Nho lộng gió của các chiến thuyền cổ xưa trí súng đại bác đồng đen, không biết ở đâu trôi đến, thả neo ven sông Hiểm mỗi khi giáo sĩ xuống các xóm chài giảng kinh, đến những lần ra nhà sách Tôn Thọ Tường chầu chực đợi thu tiền sách, dù các chủ hiệu sách sau khi khấu trừ 50% hoa hồng vẫn ít khi sòng phẳng, De Rhodes đã rất ngạc nhiên chứng kiến cảnh những đoàn kỵ sĩ mũ nồi thập tự giá, rầm rập phi nước kiệu ngang qua phố chính thị xã. Tiếng hò reo của lũ trẻ An Nam vang dậy theo tiếng vó ngựa thập tự chinh vang lừng xuyên suốt khắp pháo đài đến nỗi, lính Lê Dương ở các trạm gác cũng ngỡ đã có quân viện từ chính quốc. Rất đông các sĩ quan Pháp đã tin tưởng lữ đoàn kỵ binh giáp sắt sẽ xuất hiện chống trả Việt Minh ngày Cao Bằng bị tấn công, chỉ cần cha cố rao giảng phúc âm ở tuyến đầu. Hiếm ai lúc đó không tin tưởng vào nhà thờ, như niềm tin chiến thắng cuối cùng.

Giáo sĩ cũng ghi chép cẩn thận giai đoạn ông gặp khủng hoảng, khi thiếu nữ thành Goa chưa bước chân ra khỏi cuốn tiểu thuyết An Nam. Thứ khủng hoảng oan nghiệt của một oan hồn, ngày cũng như đêm chui rúc trong các xó hốc, cho đến một hôm, quá tuyệt vọng ông đã treo cổ tự tử dưới đà ngang nhà thờ. Cha cố đã đau đớn dẫy dụa oằn oại hàng giờ, đã trông thấy chiếc lưỡi của ông dài ngoằng đến gối, đã đau đớn phạm điều răn đức chúa trời, nhưng ông không chết được. Sáng đó, dì Louise vào lễ, dâng hoa, đã hốt hoảng ngất xỉu trông thấy giáo sĩ treo cổ dưới tượng Chúa mặt mũi tím bầm và ruột phân lòng thòng trên đất. Đại tá Charton đã phải cho lính bắt thang lên cắt dây thừng đỡ ông xuống, những lúc đó giáo sĩ ê chề xấu hổ và mang trong mình nỗi bất lực oan khiên của bóng ma. Sự sống không còn, cái chết chưa hết, nhưng con người không có một chút quyền tự do định đoạt phần số của chính mình, tất cả tùy thuộc thượng đế.

Cứ thế, cha cố ghi chép miên man, chỉ cần ông nhiễu một giọt mực, chữ sẽ đen đặc. Trong suốt nhật ký, trừ chương thành vợ chồng với Tuyết, mà giáo sĩ luôn đỏ mặt ngượng nghịu ít dám đọc lại, cha cố hài lòng hơn hết những chương đầu tiên khi ông mới đặt chân đến An Nam, còn mang trong mình sứ mệnh thiêng liêng cùng đức tin sáng thế ký.

Khi đến Gia Định lần đầu tiên, De Rhodes đã biết ông đặt chân tới một vùng đất kỳ bí. Hơi nóng ngùn ngụt như thiêu, đốt liên tục suốt ngày sắc xanh hực gai góc của những cánh rừng trùng điệp ngút ngàn mà dù đứng xa ông vẫn nghe thấy tiếng trò chuyện râm ran của vạn vật. Tất cả thanh âm An Nam bật lên dưới nắng sức sống mãnh liệt hừng hực hắt dội lửa dâng lên khắp mặt đất, không chỗ nào không có tiếng nói, ngợp bóng người, như thể mỗi người đàn ông An Nam là một cây chuối xanh biết đi đứng, mỗi người đàn bà An Nam là một buồng chuối xum xuê quả. Mãi sau nhiều ngày De Rhodes mới hiểu do người An Nam chết yểu, chết sớm quá nhiều nên phải tận lực sinh sản. Và lý do tử tuất cao lẫn tiếng động không ngớt ầm ĩ, không ngơi nghỉ, từ sáng đến trưa, suốt chiều, đêm khuya cho đến thâu đêm, phát sinh ở thảm kịch sắc tộc Kinh thiếu chữ viết để ghi nhớ những chuyện cần nhớ. Tất cả dân bản xứ đều phải kể chuyện huyên thuyên, nói thật to, bất kể người đang ngủ cần yên tĩnh, để những điều cần nhớ được lập đi lập lại không dứt và truyền bá rộng rãi, cho phép những người đã quên có thể nhớ lại, và lưu truyền cho con cháu. Đến mức nhiều gia trưởng lập đi lập lại lời trăn trối của tổ tiên cho đến khi tắt hơi qua đời, và kẻ thừa kế được dòng họ nuôi nấng chỉ để học thuộc bí kiếp gia truyền và lẩm nhẩm trả bài trước bàn thờ cho đến lúc kiệt sức và cứ thế con cháu thay nhau lập lại một suy nghĩ đã có từ nhiều ngàn năm trước. Đến nỗi trong buổi giảng đầu, De Rhodes không sao truyền bá thánh kinh, vì những kẻ tò mò đến xem, không ngớt lập lại những điều gia đình căn dặn, để đừng quên, sau khi tan lễ phải ra chợ mua bao nhiêu lạng hành tỏi, gà, rau, đậu, mắm, và ghé đến nhà ai mời giỗ, thu họ, đóng hụi chết, bao nhiêu xâu tiền kẽm, khiến buổi ra mắt sách Cựu Ước thứ nhất của De Rhodes ồn ào như một chợ cá. Chính lúc đó De Rhodes quyết định ký âm thứ ngôn ngữ kỳ lạ lảnh lót như tiếng họa mi ríu rít, với mục đích giúp dân bản xứ có thể ghi chép những điều thường nhật cần nhớ, sẽ rảnh rỗi im lặng hơn khi nghe giảng kinh, và đặc biệt thôi lập lại những điều Thiên Tử ban truyền ngăn cấm giáo hội. Chỉ một thời gian ngắn, giáo sĩ nhận ra ông đã thành công. Từ khi có chữ viết, số tử vong vì kiệt sức giảm hẳn, sắc tộc Kinh thông tin cho nhau dễ dàng việc đồng áng, lúa gạo nhiều hơn, khiến thanh niên An Nam lớn nhanh như thổi, cao đến đầu gối, rồi đến bụng, cuối cùng đứng ngang tầm ngực ông, nhưng ngưng ở đó, vì dân bản xứ có truyền thống ăn rau sống với bánh tráng cuốn ruồi nhặng chấm nước dòi, đưa đến bệnh tiêu chảy triền miên làm teo tọp thân thể. Chính các Chúa Nguyễn thời đó cũng không sao ngăn cấm được thứ chữ do De Rhodes ký âm, vì rất ít ai đọc được các sắc chỉ dụ viết bằng tiếng Trung Hoa, nên không hiểu các Chúa muốn gì.

De Rhodes cũng khám phá, sức mạnh của sắc tộc Kinh nằm trong những đứa trẻ, đông đúc chiếm hai phần ba dân số, một phần do những cụ già yểu thọ, một phần do phụ nữ An Nam mắn đẻ, chỉ cần ăn hơn một rổ khế chua đã có thể thụ thai. De Rhodes luôn luôn ngạc nhiên trước những đứa trẻ cực kỳ thông minh, linh hoạt, sinh động và gần như không bao giờ già đi, chỉ chết non vì chiến tranh. Giáo sĩ nhớ rõ, ông đã gặp một cậu bé khôi ngô, chỉ trong một tuần lễ đã dạy ông cách phát âm của mọi miền đất An Nam với tất cả thanh sắc. Cậu bé thông thạo mọi thứ, biết hết mọi chuyện, từ cách đổi tiền quan ra tiền kẽm, lãi thấp, đến cách thuê trâu giúp ông di chuyển, đến mọi thứ trái cây, đồ tế nhuyễn bản xứ. Chỉ trong một đêm cậu bé đọc vanh vách kê khai tất cả mọi món ngon vật lạ ở An Nam, và tuyên bố đã ghi chép trong hai cuốn sách do chính cậu viết. Điều kỳ lạ, thiếu niên không biết tiếng Pháp, nhưng hiểu hết những điều giáo sĩ nói, chỉ qua cử động của đôi môi. Chính De Rhodes cũng đã tiếp thu toàn bộ văn hoá An Nam qua những điều thiếu niên kể. Mãi sau, khi rời Gia Định lên Quy Nhơn, rồi ra Kẻ Chợ, giáo sĩ mới biết thiếu niên tên chữ Lê Quý Đôn, về sau chết trong trận giặc sông Gianh rồi đầu thai theo quốâc giáo, và cho xuất bản hai bộ sách Phủ Biên Tạp Lục cùng Vân Đài Loại Ngữ.

Alexandre de Rhodes buông bút. Tiếng gió hú lê thê trong cầu thang trôn ốc xoáy gọi những tiếng kêu lạnh lẽo khiến giáo sĩ ngẩng lên. Căn hầm đá bất chợt lạnh căm căm. De Rhodes thở ra khói. Ông nghe tiếng rơi của một vật nặng đang lao xuống nhà thờ. Sức hút trọng lực khiến gió đẩy bật những cánh cửa va đóng vào nhau rầm rập như nhà thờ có kẻ phá. Tất cả trần vách rung chuyển rùng rợn như có đám đông đang chạy rần rật huỳnh huỵch trên mái. Tiếng ngói lăn thông thốc từng lúc, giáo sĩ quyết định đóng nhật ký, ông chỉ kịp viết ba chữ Aléa Jacta Est cho một mặc cảm chịu tội sắp xẩy đến, mà đã từ lâu giáo sĩ biết ông bị khai trừ khỏi hội thánh.

Tiếng gió hú the thé mỗi lúc một lạnh buốt khắp châu thân, cùng lúc mang hơi lửa bỏng rát phả vào mặt giáo sĩ. Alexandre vừa thở ra khói vừa nóng hổi. Anh nhận ra những dấu hiệu của tận thế khi lửa và băng cùng xẩy đến một lúc.

Alexandre bước lên tháp, anh trông thấy gió giật những dây chuông va đánh vào nhau. Các quả chuông chạm nẩy nhau nhưng không phát tiếng động. Thời đó ai sống ở Cao Bằng cũng biết đức tính hiếm quý của những quả chuông, mỗi khi đánh không phát âm thanh, không có tiếng động nào, nhưng tiếng chuông lại ngân lên ở Đồng Khê, cách đó 28 cây số. Phải mất nhiều phút tiếng chuông váng âm từ Đồng Khê mới vọng trở lại, đổ dồn về thị xã. Hiện tượng kéo dài và chính xác đến độ Alexandre phải thức sớm những sáng chủ nhật và đánh chuông trước vài phút cho kịp lễ. Những ngày sau cùng, khi Đồng Khê bị vây, antenne truyền tin của căn cứ bị pháo sập, đại tá Charton đã phải nhờ giáo sĩ đánh chuông gởi đi những bản tin mã hoá. Sáng đó các dây chuông co giật không âm thanh, trông như bầy rắn múa máy. Alexandre cảm thấy sợ, nhưng anh cũng cố gắng bước đến nắm lấy dây chuông giữ cho đừng múa lượn. Chính lúc đó các quầng lửa cuốn về nhà thờ cháy sáng lầu chuông và các tia lửa vây lấy mình anh. Trong khoảng khắc tiếng chuông ngân từ Đồng Khê réo về Cao Bằng như tiếng sấm rền. Lẫn trong tiếng chuông Alexandre còn nghe rõ cả tiếng đại bác bắn vào đồn Đồng Khê, tiếng súng cối của Việt Minh câu dòn dã, tiếng kèn thúc quân và cả tiếng hô xung phong của trung đoàn Thủ Đô. Tiếng chuông làm vỡ tan hoang gạch ngói rơi rớt lả tả chung quanh đỉnh tháp nhà thờ. Cứ vài phút tiếng chuông đổ dồn về gióng ào ạt ầm ĩ kinh động những rên la của lính viễn chinh bị thương ngoài mặt trận. Các dây chuông co giật như phát điên, quấn lấy đôi tay Alexandre như những vòi bạch tuộc nghiến thắt, khiến anh không sao giữ thăng bằng, cả người Alexandre bị nhấc bổng lên không trung theo điệu múa quỷ quái của quả chuông rồi kéo lê lết đến tận bao lơn tháp trước khi chịu lôi giật về hướng ngược lại. Ở mỗi cơn động kinh Alexandre bị các cuồng lửa bắt xém vào áo chùng làm phỏng rộp thịt da cho đến lúc tấm áo cháy tiêu và thân thể anh hoàn toàn trần truồng. Chính lúc đó Tuyết xuất hiện ở cửa tháp. Chính lúc đó Alexandre tin chắc ngày cuối cùng đã đến và Thiên Chúa sống dậy phán xét loài người.

- Blời ơi ! Tận thế rồi !

Tuyết ôm chầm lấy giáo sĩ lúc đó.
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2005, 02:54 AM   #29
joker25
Khách
 
Bài : n/a
Default

Về sau khi gặp lại Nhất Linh trong căn biệt thự ở Đà Lạt, bên suối Đa Mê, Tuyết còn khóc òa kể với anh Tam những thiên tai bất hạnh của mối tình phóng đãng với giáo sĩ. Tuyết đã không ngờ anh Tam cực xấu hổ, tê tái, nhục nhã và quyết định tự vẫn sáng hôm sau. Nhất Linh đã không muốn mang trách nhiệm của một nhà văn cha đẻ một nhân vật phạm thánh. Anh Tam đã lấy cái chết của chính mình để nói với người đời Nhất Linh là một nhà văn trong sáng. Tuyết đã khóc hết nước mắt trong chuyến xe tang không kèn trống, đông đảo độc giả đi đưa trong âm thầm lặng lẽ. Tuyếât đã khóc hết nước mắt lúc hạ huyệt, chôn sâu trong lòng vĩnh viễn mối tình đầu, và đã khóc nghẹn ngào cho buổi sáng thác loạn với cha cố.

Lửa của buổi sáng đó cũng bắt vào hai vạt áo dài của Tuyết khiến cháy tiêu quần áo trên mình nàng. Tuyết khám phá ra nàng không thể chết. Nàng là một nhân vật tiểu thuyết không có khả năng chết. Gió xô đẩy cả hai đến sát bao lơn, Tuyết khiếp hãi co chân quắp lấy mình Alexandre, cho trĩu thêm sức nặng để cả hai đừng rớt ngã xuống khoảng trống chơi vơi sâu hút. Chính lúc đó trong sâu chín sợï hãi Tuyết đã cảm ra da thịt giáo sĩ tươi rói cứng cáp đâm thẳng vào cửa mình nàng đột ngột bất ngờ như tiếng chuông bỗng hét lên tiếng rú rách trời. Tuyết đã kêu lên đau đớn tưởng chừng nàng có thể ngất đi vì sướng. Chưa bao giờ Tuyết làm tình với một người đàn ông rắn chắc khỏe mạnh như với giáo sĩ, tuồng thân thể anh là chiếc gậy chống của Mọse, cây gậy chống dài có thể xẻ đôi Hồng Hải. Tuyết rên la từng cơn, mỗi lúc lửa vây lấy cả hai cháy rực các bức rèm nhung có ngọn, mỗi lúc Alexandre xâm nhập vào sâu trong thân thể nàng làm như anh cũng hoảng sợ cố bám víu vào thân xác Tuyết di truyền một giọt máu. Tuyết kêu la không ngớt, bấu chắc lấy cần cổ Alexandre đánh đu dưới quả chuông đong đưa, theo nhịp giật của dây thừng kéo lôi cả hai từ bao lơn này đến bao lơn khác, hết vực sâu này xuống vực sâu khác, rơi từ vực thẳm của sung sướng xuống những mái nhà ngói đỏ li ti rồi nhảy giật lên tháp trong tiếng rên la của thân xác.

Chính lúc đó Tuyết trông thấy bóng Bernard de Lattre ngã xấp ven sông Hiểm. Viên trung úy chứng kiến suốt ba hôm, cảnh tượng kinh khủng của các lớp sóng Việt Minh tràn lên, lớp lớp mà súng liên thanh không sao có thể quét hết, thậm chí cả đại bác chống chiến xa đặt ở hầm chỉ huy bắn đạn xuyên xoáy cũng không thể khoan thủng bức tường Việt Minh dầy đặc chuyển động như cánh rừng. Đồng Khê thất thủ khi những trái đạn lân tinh chót cùng và những quả đạn nổ cao của pháo 105 ly cạn kiệt. Đại úy Casanova tử thương, đại úy Brun bị bắt sống và trung úy Brondel chết ngay ở giao thông hào. Suốt đêm trung úy De Lattre dẫn đại đội sống sót mở đường máu, dẫm lên những xác chết mà De Lattre kinh hoảng khám phá đang đầu thai từ từ, chậm chạp ngồi dậy, thậm chí có những xác quân chủ lực Việt Minh chồm lên, tròng mắt trắng dã, la hét chụp lấy mã tấâu chém xối xả vào đội hình lính Pháp mà chỉ mới một phút trước đây đã bị tiểu liên của binh sĩ Lê Dương cắt đứt đôi người. De Lattre thương tích khắp mình mẩy, nhưng anh xăm xăm trong bóng tối nhất quyết trở về Cao Bằng để gặp lại người đàn bà của nhà thờ. Suốt đêm đại đội De Lattre bị Việt Minh truy kích tiêu diệt không còn ai sống sót. Chính viên trung úy cũng ngạc nhiên không hiểu động lực nào đã giúp anh vượt hai mươi tám cây số đường rừng. Chính lúc đó, khi viên sĩ quan vừa trông thấy hai nhánh sông Hiểm và sông Bằng Giang êm ái bao lấy pháo đài, lịch sử quân đội nhân dân An Nam ghi rõ, chiến sĩ Phan Đình Giót của tiểu đoàn Hoàng Diệu đã dùng lưỡi lê đâm thủng ngực De Lattre. Dưới những ráng hồng đầu tiên Bernard ngã xuống. Anh vẫn không hiểu vì sao anh đã không đau đớn, trong lúc bộ đọâi Việt Minh vẫn tiếp tục lấy lê đâm xóc vào mình. Bernard không còn sức kháng cự, anh quá mệt lả vì mất máu và đi bộ nhiều. Bernard nằm yên nhìn ngắm lính An Nam thấp như những đứa bé đang thay nhau tháo nhẫn, đồng hồ và lục khắp các túi quần anh. Cho đến lúc Phan Đình Giót cắt mạn sườn viên trung úy, thích gan cho vào bình rượu thuốc, viên sĩ quan vẫn hãy còn tỉnh táo và hài lòng đã tiêu hết lương tháng dưới xóm thổ. Tiếng chuông ngân lên lúc đó, bao la và say đắm, tựa tiếng kêu của thiếu nữ lúc ân ái, gọi anh xuất tinh để cùng thỏa mãn. Bernard nhỏm dậy, anh vụt hiểu, vì đâu anh không thể chết. Chính tình yêu tạo ra sự sống và nuôi dưỡng sự sống, giản dị như định nghĩa ghi chép trên mình thiếu nữ. Nguyên lý cơ bản của sự sống khởi đi từ tình yêu và trung úy De Lattre đang yêu không thể chết. Tiếng chuông chín tiếng, như chín lần thiếu nữ gọi anh trở về. Bernard phát lên cười khanh khách, trước sự ngạc nhiên của Phan Đình Giót. Trung úy De Lattre vừa nhớ đến những quẻ xăm rùng rợn chú giải : Đồng Khê mạng vong lúc 9 giờ sáng. Bernard cũng nhớ ra những lời Tuyết ân cần khuyên nhủ, đức năng thắng số, nhân trung Trung Hoa với nhân trung Tây khác nhau, không thể đo cùng một thước. Chết không dễ dàng như con người muốn. Bernard chỉ thắc mắc, vì đâu các thầy An Nam tinh thông lý số, kinh dịch, không thể bói ra tình yêu đến với anh bất ngờ. Viên trung úy còn thắêc mắc vì sao sắc tộc Kinh, lưu trữ bốn ngàn năm quá khứ đã không coi trọng tình yêu, thứ tình cảm đầu tiên và cuối cùng của kiếp người. Viên sĩ quan cũng nhớ, giáo sĩ De Rhodes đã có lần nói với anh, do thiếu chữ viết, người An Nam đã không ghi được những suy nghĩ trừu tượngï của họ truyền cho con cháu, chỉ có thể truyền khẩu những chi tiếât hiện thực, cụ thể. Lúc chiến sĩ Phan Đình Giót đâm mỏi tay, văng tục rồi bỏ đi, Bernard de Lattre de Tassigny trông thấy những quầng lửa kéo nhau về Cao Bằng. Các tia lửa đỏ thắm trời mà anh nghĩ chính là máu của anh đang chảy về với Tuyết. Anh chỉ không hiểu ra vì đâu mặt nước sông Hiểm êm đềm đến vậy, khi chung quanh vạn vật hỗn chiến và lùng giết nhau cho những điều không liên quan đến tình yêu.

Buổi sáng có lửa Satan và phép màu cùng xẩy đến, dì phước là người đàn bà thứ hai trong pháo đài trông thấy Jésus Christ. Suốt đời Louise sẽ không tha thứ nàng đã trang điểm quá lâu trước tủ gương đến trễ hẹn. Sáng đó, khi những thanh âm hào hển rềân rỉ của quả chuông rưới lên mái tu viện những xúc cảm bồi hồi, dì phước đã đội lên tóc chậm rãi khăn vành trắng, cẩn thận ngắm nghía từng nếp khăn chùm tu, vẫn trong trắng như thân thể hãy còn đồng trinh của dì. Khăn vành trắng đẹp như tấm voan ngày cưới mà Louise đã kiêu hãnh phủ trùm suốt đời tu hành. Dì chỉ ra khỏi chủng viện khi tiếng chuông thúc hối, lúc lửa Satan thắp sáng quảng trường và lầu chuông gióng những tiếng chuông cuối cùng. Trong bụi khói, gỗ đá, Louise trông thấy đấng Christ khi đó, vẫn người đàn ông của ngày xưa, của những đêm trăng thiết tha bước vào phòøng nàng cúi xuống đặt lên môi cô bé Louise một nụ hôn tinh khiết. Louise đã muốn chạy đến khi ấy, bất kể lửa Satan lan đến làm cháy rụi rặng sữa. Dì phước chỉ hốt hoảng lúc gió tốc cao váy tu phô đôi chân dì trắng trẻo đến đùi trước cặp mắt thèm muốn của các phu xe kéo. Louise phải ngồi thụp xuống túm lấy cổ chân giữ cho váy áo đừng tung bay. Thật ra Louise đã có thể vất tung hết tất cả, kể cả tấm áo dòng bấy lâu không thay đổi, nhưng chính vì dì phước trông thấy Jésus đang nắm lấy tay một kẻ nào đó, mà giác quan giúp dì cảnh giác chỉ có thể là người đàn bà thơm hương nước hoa đĩ thõa hôm nào đã quyện ám trên những bức rèm nhung nhà thờ. Louise đã chứng kiến đấng Christ im lặng, nỗi im lặng sâu thẳm mà dì phước không đoán nỗi, thứ im lặng đớn đau của một người đàn ông bấât lực. Dì phước không hiểu, chỉ cảm thấy thỏa mãn, thứ thỏa mãn của người cùi mọc lại đốt tay khi dì đã giằng lấy tay chúa ra khỏi bàn tay của người đàn bà vô hình mà dì không trông thấy. Trong lòng Louise còn muốn níu thân áo trắng của người đàn ông còn phất sau cửa nhà thờ. Linh hồn Louise đã tất tả chạy lao qua quảng trường, bước lên các bậc tam cấp rồi ngã phục trên nền đất. Louise đã sững sờ chứng kiến người đàn ông nàng vừa trông thấy bằng xương thịt đã bị treo trên thập giá và ánh mắt hóa thạch bất động trên hai tay còn chảy máu ở lỗ đinh vừa đóng.

Chính trước đóù Tuyết trông thấy Jésus Christ. Buổi sáng có lửa Satan và phép màu cùng xẩy đến. Tuyết cảm giác rất rõ rệt nàng đang băng huyết xối xả lúc giao hợp với Alexandre. Không phải do Tuyết có kinh sớm, nhưng là máu của viên trung úy đang tuôn chảy tướp khắp đùi nàng. Tuyếât đau thắt tử cung, thứ nỗi đau thường xuyên xẩy đến những ngày cuối cùng khiến nàng phải gập mình ôm bụng khóc trong lặng lẽ. Những ngày ở Cao Bằng Tuyết chiêm nghiệm rất nhiều điều, đàn ông da trắng hay An Nam yêu rất dễ dàng, quên rất nhanh, miễn sao họ còn ham muốn thân xác. Tuyết chỉ không hiểu do đâu nàng có khả năng ân ái với mọi đàn ông, nhưng không thể yêu ai từ sau ngày anh Tam bỏ đi. Đôi lúc Tuyết yêu vô vàn nét trẻ thơ của Alexandre mỗi khi anh phát âm ngọng nghịu Quy Nhin, Quẩm Ghĩa, hoặc vẻ chân thật của mỗi khi anh khăng khăng bào chữa phát âm chuẩn theo lối nói cổ của sắc tộc Kinh. Nhưng Tuyết cũng nhớ đến đôi môi say đắm của Bernard mà anh hôn không rời, những cuồng si không dứt mà hồi tưởng Tuyết hãy còn đau nhói dạ con. Bao nhiêu ngày, Tuyết thầm hỏi nàng yêu ai, và bao nhiêu đêm Tuyết ý thức nàng vĩnh viễn thuộc về Nhất Linh.

Tiếng rú của một vật nặng đinh tai nhức óc. Tiếng xoáy lanh lảnh mà đang ôm Alexandre Tuyết phải bưng kín lấy tai sợ rách màng nhĩ. Tuyết linh tính biết tai ương sắp xẩy đến. Chính Alexandre cũng cảm giác điều ấy nên anh xuất tinh không dứt, như một ước muốn chót cùng hối hả tạo ra sự sống trước khi xuống hỏa ngục đời đời. Bao nhiêu tin đồn lửa thiêng sẽ đổ xuống thị trấn khiến cả hai biết tận thế gần kề. Chiều hôm trước, cố đại úy De La Marek hãy còn đến xưng tội với Alexandre và kể một câu chuyện thật lạ. Khi binh đoàn tác chiến Le Page rơi vào ổ phục kích, chuyến quân xa tắt nghẽn trên đỉnh đèo Lủng Phài. Bộ đội Việt Minh xung phong biển người, các toán quyết tử ôm bộc phá đánh bom từng chiếc GMC một. Lúc đó, người đàn ông áo trắng đứng trên mui xe đã chỉ tay xuống vực thẳm, trổi lên một trận lốc kinh thiên cuốn văng tất cả tiểu đoàn Nguyễn Tri Phương xuốâng hố mà không một binh sĩ Marốc nào hề hấn. Chính các cố vấn Mỹ về sau nghiên cứu phúc trình Le Page trong trận đánh đường biên giới, đã triển khai phương pháp và cho sản xuất mìn Claymore định hướng. Nhưng Tuyết không sao biết, phải đợi đến sau này vào Nam, cuộc thánh chiến tiếp diễn, khốc liệt, nghe kể về loại vũ khí mới, Tuyết mới liên tưởng đến những chuyện đã xẩy ra ở Cao Bằng.

Tiếng hú khi ấy, vít đinh vào sọ não, mỗi lúc một lớn tựa nguyên một tảng trời đang sập. Tiếng hú xé óc cho đến lúc ngưng bặt. Tuyết còn trông rõ trái phá chọc thủng mái nhà thờ. Tất cả vỡ oàng ngay sau đó, trong tiếng nổù khủng khiếp của quả chuông đứt dây lao cắêm xuống mặt đất. Tuyết đã hãi hùng rơi trong lòng quảû chuông xoay tít, hãi hùng trông thấy gương mặt của các sĩ quan Pháp từ dưới quảng trường chính thị xã, lớn phồng lên, cả nỗi xanh tái khám phá Việt Minh đã kéo pháo lên đỉnh núi cũng to tướng dần. Cùng lúc Tuyết hãi hùng nhận ra cơ thể nàng tiếp tục đòi hỏi giao hoan không thể dứt ra khỏi mình Alexandre trong khi cả hai ngã bổ xuống thang lầu gẫy tung các đà gỗ và rơi không kềm hãm. Chính khi ấy Tuyết trông thấy Jésus Christ, khi nhà thờ phát nổ, đỏ ối một quảng trời, gạch ngói long lở và mái tháp đổ ụp xuống thị xã.

Phải khó khăn lắm, Tuyết mới chui ra khỏi quả chuông. Tất cả hỗn độn, ầm ĩ, hỗn mang của gạch đá khói đen đầy bụi tắt lịm cùng với tiếng chuông đứt đoạn đột ngột. Tuyết gọi Alex ? nhưng không có ai trả lời. Tiếng kêu của chính nàng thất thanh suốt quảng trường rồi vang trở về, làm như tiếng gọi cũng đã đi tìm cha cố. Có bóng người đi tới, Tuyết xấu hổ lấy tay che ngực, nhưng không ai đếm xỉa đến nàng, cả những toán cứu thương chen lấn chạy vào phố Chả Cá đang bốc cháy, xô đẩy, va chạm phải mình nàng cũng không xin lỗi. Tuyết nghe loáng thoáng cha cố gẫy hai chân phải đi cấp cứu. Nàng hối hận đã đem đến tình yêu hồi sinh khiến Alexandre hóa nửûa người, nửa ma, chịu thương tích.

Người đàn ông nắm lấy tay nàng khi ấy.

Jésus mang vẻ đẹp trần thế, trầm thống và cô buồn của nhân gian tội lỗi, vẻ đẹp khác thường mà Tuyết chưa hề trông thấy. Vẻ đẹp của thiên nhiên tạo hóa. Từ thân thể trong vắt những dòng suối uốn khúc ở cổ chân, đến bầøy chim ríu rít hót mà Tuyết đoán đang đậu kín dưới thân áo. Cả vẻ đẹp u uất của những cánh rừng rũ cội hiu hắt. Tuyết nhận ra ngay người đàn ông trong Tân Ước. Jésus mang tất cả nhân dáng của nhân loại, đến nỗi nàng nhận ra ngay ánh mắt nghiêm khắc của Nhất Linh, hàng mày cong của Khái Hưng, sóng mũi thẳng của Alexandre và khóe môi hơi mỏng của Bernard de Lattre. Đấng Christ tựa một người đàn ông nàng đã trông thấy nhiều lần mỗi ngày màø chưa hề gặp. Điều kỳ lạ sự dị biệt đó không tách bạch nhưng hòa quyện lẫn nhau đến mức vừa quen thuộc, đầy lạ lẫm. Tuyết nhận ra tất cả những điều Alexandre đã kể với nàng đều có thật. Jésus mang thân thể không trọng lượng, có khả năng đi bộ băng ngang qua những đại dương bão tố trên trái đất.

Lúc đó, phép màu xẩy đến mà không một ai có thể ngờ. Tất cả mọi đám cháy đều tắt ngấm khi Jésus Christ đi qua, trận pháo kích cũng trệch ra khỏi pháo đài, tất cả những quả đạn đều rơi vãi xuống sông Hiểm. Các đống gạch đá vỡ nát bỗng dưng nguyên vẹn xếp ngay ngắn chờ đợi tái thiết, dẫy mái tôn bị pháo xụp ở phố Chả Cá thốt nhiên lợp mới trở lại có dằn bao cát chống đỡ cho trận pháo kích kế tiếp, và đất ở đâu đùn lên các nắp hầm lính Pháp dầy thêm nhiều thước. Tuyết chứng kiến rõ rệt người đàn ông đứng ở giữa quảng trường và vạn vật chung quanh trôi đến. Không phải Jésus Christ đi đến, nhưng sự vật trôi đến trước chân đấng Kitô. Từ những đám mây trong trôi ào ạt đến quảng trường xua đuổi khói than mù mịt, những tia nắng bị hút hết vào trong mái tóc Jésus sáng rỡ, những đứa bé mắc chứng trừu run chân bu đến và cả nhà thờ chính tòa đồ sộ nguy nga sập mái cũng trôi đến dần dần. Mặt đất thu hẹp lại và vạn vật thu về một hướng. Chính Tuyết cũng trôi đến trước chân chúa, dù nàng không hề cử động hay nhúc nhích, nhưng vẫn chuyển dịch chậm rãi cho đến khi người đàn ông nắm lấy tay nàng.

- Lạy chúa tôi ! Danh Cha cả sáng !

Tuyết thốt lên lời kinh ấy. Nàng quỳ gập người, không hiểu vì sao bài kinh La ngữ Alexandre truyền dạy cho nàng trổi lên lúc đó. Như máu huyết từ huyết quản dồn lên tim, dâng lên môi và Tuyết không thể nói lời nào khác hơn những giọt máu đang chảy trong tim nàng. Lúc ngửng lên, Tuyết bắt gặp ánh mắt đấng Christ toát ngời những hình ảnh khủng khiếp của muôn kiếp người. Khác với Alexandre de Rhodes, đôi mắt của Jésus không chỉ phản chiếu quá khứ, nhưng cả tương lai, và của cả nhân loại trong cùng một lúc. Tuyết đã bàng hoàng trông thấy cơn mưa sáng gai góc sắc buốt nhểu xuống khu vườn lan rũ úa bên suối Đa Mê, đã sửng sốt chứng kiến Nhất Linh già đi, ốm yếu, uống từng giọt độc dược đắng, đen, như những giọt mực anh đã dùng viết tiểu thuyết. Nhất Linh đã uống cạn ve thuốc độc như muốn nuốt trôi hết tất cả chữ nghĩa đã viết. Tuyết cũng trông thấy Trần Khánh Dư bị thủ tiêu bắn chết ở một miền quê hẻo lánh. Anh Dư khi chết đã cười thật tươi như anh đã luôn xem cuộc sống chỉ là những tình cảm nhẹ nhàng. Anh Dư chết như anh đã muốn đi tìm một kết thúc tiểu thuyết bí hiểm mà người đời không một ai rõ. Tuyết còn trông thấy ngày Cao Bằng thất thủ, bộ đội Việt Minh vào tiếp quản, vong thiếu tá Rivière và đại úy Garnier ra trình diện học tập ở ủy ban quân quản thị xã. Tuyết đã hét lên lúc trông thấy Alexandre bị tập trung cải tạo rồi hình ảnh biến mất, trống rỗng.

Tuyết đã khóc ngất trong buổi sáng có lửa Satan và phép màu cùng xẩy đến. Khóc cho thân phận một nhân vật tiểu thuyếât, không có quá khứ, tương lai, trong đôi mắt đấng Christ. Về sau tòa thánh La Mã không chứng nhận, không xác chứng Jésus Christ đã tái thế, chỉ vì nhân chứng duy nhất, dì Louise bị tước phép thông công do đánh mất phẩm hạnh. Nhưng sáng đó, buổi sáng có mây trong và những khóm dâu đỏ huyết đan kín các lối đi ven rừng, các họ đạo đã khắc ghi vĩnh viễn hình ảnh nhà thờ bốc cháy. Nhiều năm sau, Tuyết cũng không còn nhớ rõ đấng Christ đã xuất hiện trước hay sau trận pháo kích. Tuyết chỉ nhớ đã khẩn khoản van nài thiên chúa cứu chuộc linh hồn nàng. Sáng đó đã xẩy ra hiện tượng thần bí. Những trang giấy to bản chép đầy chữ Hébreu, ở đâu bay đến sáng lóa và vây lấy Jésus. Từng trang đặc chữ Do Thái cổ óng ánh giát vàng lần lượt xuất hiện trước đấng cứu thế rồi biến đi, cứ tiếp tục bay đến, trang này sau trang khác, rợp trời rồi mất hút. Trên không chỉ còn lại dư âm của gió và thứ bụi vàng rây rắc gieo xuống những khóm mai yếu ớt, vừa hé nở, thắm thiết, mà không ai rõ vì sao ở cuối tháng năm khi những trận bão rừng bắt đầu đổ về miền biên giới. Tuyết hiểu nàng không có tên trên danh sách loài người khi Jésus Christ gỡ tay. Vì sao thiên chúa ngôi hai với đôi mắt chứa chan nhân ái đã im lặng, không thể cứu rỗi. Sáng đó, gương mặt Jésus buồn đắm. Sáng đó Tuyết đã khóc thật nhiều vì vụt hiểu ra nàng chỉ có thể hiện hữu bằng tình yêu khai hoá duy nhất của Alexandre Lucien Abel de Rhodes.

Đó là thời kỳ ở Cao Bằng không còn một ai tin vào chiến thắng của quân đoàn viễn chinh Pháp và lính Lê Dương vẫn hát những bài ca của quỷ:



Louise Marie où vas tu dans le monde ?

Je vais où vont les soldats

Louise Marie qui aimes tu ?

J'aime celui qui va mourrir

et le diable en rit, Ha, Ha, Ha, Ha



Trần Vũ

Défunts 02/ 11/ 2002
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2005, 03:26 AM   #30
joker25
Khách
 
Bài : n/a
Default

Thôi đã lỡ "lắm lời" rồi thì post luôn truyện ngắn Những Sợi Tóc Màu Tang Lễ của Đỗ Hoàng Diệu cho bạn nào chưa đọc.
A-tu-la cho thêm ý kiến đê!
Thổ Phỉ nghĩ thế lào?

NHỮNG SỢI TÓC MÀU TANG LỂ
Đỗ Hoàng Diệu

Dực đã đi rất đỗi nhẹ nhàng. Dực đang chỉ chạm khẽ mũi giầy vào bậc thang gỗ. Cảm giác Dực đang bay. Bậc cầu thang nâu bóng mầu thời gian, nâu bóng rêu phong những kiếp người hình trôn ốc. Có người đang nhìn Dực, nhiều người đang nhìn Dực. Họ kinh ngạc trân trối ngóc đầu lên những bậc cầu thang gỗ. Có phải tiếng động của gót giầy Dực không, hay âm thanh phán lên niềm rắc rối nhịp đập trái tim? Xoáy xuống, xoáy tròn, hun hút và tăm tối. Từ tầng ba xuống tầng một mà đi cả 27 năm trời chưa xuống được tới nơi. Dực cười thầm ý nghĩ của mình. Hình như có âm thanh nào đó đang trườn tới.

- Hôm nay thứ Hai mà Dực cũng đến Thư viện à?

Thứ Hai ư? Dực nhìn xuống đôi giầy của mình trước khi lướt mắt qua người đàn ông.

- Vâng, đúng rồi. Thứ Hai nên Dực mới đi giầy cao gót và mặc bộ áo váy sang trọng này. Anh Dũng chưa nhìn thấy Dực đi giầy cao gót bao giờ đúng không?

- Thì Dực chỉ đến đây vào chủ nhật, những hôm Dực mặc quần bò và đi giầy thấp, làm sao anh thấy được?

Người đàn ông thủ thư của phòng đọc. Anh ta đang nói về những đôi giầy của Dực. Cao thấp, thấp cao ảnh hưởng gì đến cuộc đời anh ta, ảnh hưởng gì đến những cuốn sách mối mọt mà anh ta đang cất giữ?

- Bao nhiêu người đang nhìn em đấy. Đôi giầy cao gót của em gõ vọng cả sáu tầng nhà Thư viện Quốc gia.

Ô hay, thế mà Dực không biết. Dực đã bay xuống những bậc thang gỗ mà vẫn phát ra được những tiếng động ư? Dực có nghe tiếng gì đâu. Một, hai, ba. Dực đi tiếp. Rùng rợn tiếng quỷ khóc, ai oán giọng ma kêu. Chít chít, chuệch choạc, âm thanh chưa chạm, tiếng của sự rơi vào hư vô. Dực phải bỏ đôi giầy ra thôi. Nơi tĩnh lặng thế này Dực sẽ phá hỏng biết bao ý tưởng đang rồ lên điên dại điều khiển bàn tay lật giở từng trang sách kia. Cúi xuống, những ngón tay thon dài của Dực chạm vào mũi giầy, kéo ra. Không! Dực không kéo nó ra nổi. Từng lọn tóc bỗng dài thêm và đang vùng vẫy dưới miếng da màu đen. Lẫn lộn giày tóc, lẫn lộn niềm đau. Dực cố vùng lên ngẩng cao đầu, đưa chân ra nhưng đầu và chân Dực đều không cử động. Từng sợi, từng lọn bứt ra khỏi đầu Dực toẽ hình hoa huệ tàn phủ lấp mũi giầy. Chân tóc trắng sắp hàng so đũa chổng ngược kinh hoàng nhìn Dực đang hãi hùng. Chân tóc chuyển dần đỏ rượi toé ra từng sợi, từng sợi. Màu máu, hình như là máu. Anh sẽ cưới vợ vào tháng 12 này. Vợ anh là một ca sĩ mà chắc em đã từng nghe tên. Vướng vít tóc Dực bay lượn anh, vợ, ca sĩ, mười hai. Đỏ máu, chữ được nặn từ máu Dực. Dực đọc nó rõ ràng hơn trên màn hình máy tính hồi nãy.
- Chị cho đi nhờ một chút

Tiếng nói màu xanh vang lên ngay sát hông Dực. Có người đang nói, tiếng nói màu xanh, xanh ô liu. Dực đứng dậy, Dực nghĩ mình đang đứng dậy.

- Chị Dực, chị làm sao thế? Mặt mũi chị tái xanh. Sao chị lại ngồi đây?

Sao chị lại ngồi đây ư? Em tên Hưng vẫn thường dắt xe cho chị mỗi tối Chủ nhật lúc tám giờ. Như thời khoá biểu bao giờ khi chị đang loay hoay với chiếâc xe gắn máy có trọng lượng gấp ba lần cơ thể chị lại thấy em xuất hiện. Mọi người nói là em thích chị, chị cũng nói là em thích chị. Ừ nhỉ, sao chị lại ngồi đây vào buổi chiều thứ Hai khi đáng ra chị đang phải có mặt trong cuộc họp quan trọng?

- Chị vừa ở trên phòng Internet xuống. Em cũng lên đấy à?

- Vâng, em lên mạng kiếm tài liệu, em đang làm luận văn tốt nghiệp. Nhưng sao chị không vào mạng ở cơ quan mà phải đến đây?

- Cơ quan chị bị cúp điện.

Dực biết giọng nói của mình mới chuyển sang màu vàng, màu Dực cho rằng giả dối. Cơ quan Dực điện vẫn sáng, những chiếc máy tính màn hình vẫn bật xanh len lét. Và chỉ cách đây 30 phút, Dực vừa online. Dực yêu quý. Anh nghĩ phải nói cho em biết. Anh sẽ cưới vợ vào tháng 12 này. Vợ anh là một ca sĩ mà chắc em đã từng nghe tên. Đừng hỏi anh vì sao lại chia tay em. Cuộc sống vốn thế Dực à.

Dực đã nghi ngờ đôi mắt vốn vẫn thường được mọi người khen là tinh anh của mình. Dực lao vút xuống cổng cơ quan buổi trưa mùa thu. Thời tiết vàng ớn lạnh. Dực chạy đến Thư viện. Dực phải lật giở các trang sách, sở thích của Dực từ 6 tuổi, cứu cánh của Dực những lúc buồn để xem người ta nói gì, người ta biết gì về sự đời. Để người ta giải thích cho Dực vì sao người đàn ông Dực yêu thương hết lòng bỏ Dực không vì một lý do nào. Im ắng. Tiếng nói màu trắng vang lên đáp lời Dực. Và Dực gõ gót giầy nhọn cệch cạc bảy phân ngày thứ Hai sang trọng ở cơ quan lên bậc cầu thang gỗ. Anh sẽ cưới vợ vào tháng 12 này. Những hàng chữ uy quyền màu đen phán đi phán lại. Dực buốt kim châm. Bật rễ từng chân tóc Dực 27. Khánh Dực, Nguyễn Khánh Dực ơi, cô sắp trọc đầu rồi. Tiếng nói màu đỏ rực, màu lên đồng, màu tương lai.

*

- Thầy chưa gặp người đàn bà nào có những sợi tóc tơ mỏng mảnh đến như em.

- Em không phải đàn bà.

- Sao em lại không phải đàn bà?

Dực cắn sợi tóc ngang vai, sợi tóc 16 tuổi.

- Em muốn nói rằng chưa phải, em là con gái.

Ông Giáo sư cười âm ỷ, giọng cười xanh lục sang trọng người đàn ông 50 một đời vợ. Dực đắm đuối, bấn loạn trên dư âm giọng cười và ánh mắt ấy. Tập tài liệu Giáo sư đưa Dực đang cầm trên tay rớt nhẹ. Hỗn mang trời đất. Dực biết, Dực nhìn thấy thầy giáo mình đang trườn tới. Điệu cười màu xanh lục, thân hình rắn tìm mồi. Khô đắng cổ họng Dực để có thể cất lên thành lời.

- Em đẹp lắm, vẻ non tơ của em làm thầy thèm thuồng ngay từ buổi đầu nhìn thấy em trên giảng đường.

Giọng nói có cánh, nó bay vút đến tai Dực. Nhưng sao Thầy lại thèm khát Em? Giọng nói màu đen rồi. Sao Dực vẫn muốn bay lên, Dực không thể bỏ chạy khỏi màu đen. Rườn rượt đỏ mọng lên đôi môi cong trễ của Dực. Ngàn vạn râm ran cấu xé thân thể Dực.

- Thầy yêu em, thầy yêu em cô gái xinh đẹp. Em sẽ thành đàn bà, thầy giúp em ngay bây giờ cô gái bé bỏng.

Đàn bà, đàn bà, sẽ thành đàn bà. Chao đảo căn hộ tầng ba khu chung cư nhà Giáo sư. Bàn tay, không phải, gọi tên bằng đam mê xới từng phân vuông đê mê Dực. Những sợi tóc tơ bị chèn ép xuống nền gạch hoa. Hình như chúng đứt. Dực nghe mơ hồ âm thanh chúng gãy tan tành đứt đoạn. Rừn rựt hổn hển màu da cam nhịp đập Giáo sư. Phựt, âm thanh rực oà đỏ chói. Dực cháy, nó át tiếng phựt những sợi tóc lìa khỏi đầu cô gái vừa trở thành đàn bà. Da cam ực lên trinh tiết, buông thả khát thèm. Nhưng Dực nhìn thấy màu lông chuột, màu xám cỗ quan tài. Dực cố vùng lên. Dực muốn mở nắp quan tài xem bên trong là ai, ai chết thế? Mở được rồi, một lọn tóc tơ của Dực nằm trong ấy, chân tóc nhức nhối máu tươi, màu phía dưới bụng Dực đang chảy. Thân tóc huyền tang lễ.

- Em có đau không? Em sướng lắm phải không? Vẫn cong người lên thế kia chắc là còn thèm phải không em? Chờ thầy đã nhé.

Thầy, em, rướn, Dực đang ở miền nào thế này, ở kiếp nào thế này? Ai đang cấu xé bầu vú Dực thế? Thầy ư, Giáo sư ư? Máu, máu chảy lòm cả nền gạch. Không phải căn phòng giường nệm sa tanh trắng muốt nhìn ra biển. Không có ánh nến hồng lung linh. Không có sâm banh. Không phải chàng trai khoé miệng rộng cười kiên nghị bộ ngực phẳng vuốt ve tóc tơ của Dực.

Một tuần sau đó, khi Dực nhìn thấy Giáo sư của cô xanh lục trườn tới một cô sinh viên năm thứ nhất như Dực ở đúng khoảng gạch Dực đã trở thành đàn bà, da đầu chưa kịp lên tóc của cô rỉ máu. Dực đưa bài thơ viết tặng Giáo sư đang cầm trên tay quệt ngang da đầu, vết đỏ châm toác câu chữ.

*

Bao giờ bác bảo vệ cơ quan cũng nhìn khoảng trống phía dưới cằm Dực và nuốt nước bọt vào 7.30 sáng. Dực ngầm thoả thuận với bác sĩ quan về hưu kinh qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ khẩu hiệu:

- Chào bác nuốt nước bọt. Bác ăn sáng cháu no rồi thì để cháu lên phòng làm việc.

Bao giờ vị sĩ quan già cũng nhướng mắt nhìn theo dong dỏng cao Dực đến khi đôi mông tròn lẳn và mái tóc đen nhánh của cô khuất sau cây liễu già. Văn phòng Bộ gì mà chỉ rặt liễu là liễu, choán hết cả tầm mắt. Lại phải chờ đến 11.30 mới được nuốt nước bọt! Bao giờ cũng như bao giờ, Dực đọc rõ ràng suy nghĩ vị sĩ quan gác cổng. Vuốt lọn tóc ngang bầu vú, Dực ấm lên sự đụng chạm vào chỏm vú sau lần áo. Đuôi tóc hát khúc khẽ khàng mơn man.

Bao giờ Dực cũng là người đến sớm. Sếp Dực bao giờ cũng đến muộn. Căn phòng rộng thênh thang chỉ có hai người. Thảm đen mịn màng, ghế đỏ sẫm to quá cỡ và chiếc bàn dài như lưỡi vị Thứ trưởng mỗi khi bước lại gần Dực.

- Cô bé đáng yêu của tôi. Tối qua em ngủ ngon không? Áo em đẹp quá, áo em trắng quá nhìn không ra, không ra hai ngọn đồi trong sương mù. Em thấy chưa, tôi làm thơ còn hay hơn cái anh chàng bị hủi điên khùng đấy chứ. Khen tôi đi Khánh Dực. Thưởng cho tôi đi Hoàng Cúc, Mộng Cầm kiều diễm của tôi.

Gió lốc tràn tới ầm ầm. Cưa, dùi, đục, cắt bầu vú và hai má mông Dực. Bác gác cổng ăn sáng bằng mắt và ngài Thứ trưởng ăn sáng bằng tay. Và cô thư ký bé nhỏ chôn trong chiếc quan tài màu lông chuột những sợi tóc bật gốc. Dực quá yếu ớt và đơn độc. Mẹ Âu Cơ khi mang thai 100 quả trứng, trinh tiết đã mất tỉnh bơ bảo Dực:

- Đừng lãng mạn bạn yêu mến. Bạn thà rụng hết tóc trên đầu còn hơn thất nghiệp thời buổi này ở Việt Nam. Công chức nhà nước cấp Bộ oai ghê oai gớm, mơ ước của hơn 40 triệu đàn bà con gái đã trưởng thành hay đang cởi truồng tắm mưa đấy Dực ạ.

Ôi, mẹ Âu Cơ, mẹ đã nói thế thì con đành phải vâng lời. Con mang chôn tóc con trong những chiếc quan tài màu lông chuột ở khu vườn hoang đầy hoa dại. Âm sắc Mẹ đỏ rực, xám lạnh uy quyền, con nào dám trái lời.

- Dực ơi, tối nay Dực có bận không?

Âm hưởng nhẹ như tơ trắng trong suốt. Thơm lên trước cửa WC văn phòng Bộ. Nó luồn từ Nữ sang Nam.

- Có việc gì không Thức?

- Nếu Dực không bận, Thức muốn mời Dực đi nghe nhạc Trịnh tối nay.

Giọng nói chuyển sang loe loét, nhờ nhợ cháo lòng. Mời nghe nhạc Trịnh trước cửa nhà vệ sinh buổi trưa sau khi nốc đầy bia hơi vỉa hè. Nhờ nhợ ói lên da đầu Dực

- Xin lỗi nhưng Dực bận rồi. Thức rủ người khác đi đi.

Thức ơi, cậu quá trẻ, Dực không chơi với non tơ như Thức. Màu trắng nhờ nhợ ào xuống thân tóc Dực. Trắng từng đoạn. Dực già rồi, già 27 tuổi. Nó rụng vào 24 hau háu, non tơ của Thức.

- Cô thư ký của tôi ơi, chuẩn bị đi, thứ Năm này lên đường vào Huế một tuần. Có thể sẽ qua Đà Nẵng trước khi về. Nhớ mang theo bikini vì chúng ta sẽ tắm biển em ạ, mà phải là bikini đấy nhé.

Âm thanh của chú dê chuẩn bị lên đồi mùa xuân. Dực rùng mình ớn lạnh. Ngây ngấy trong xương tuỷ, trong linh cảm vốn dĩ quá nhạy của mình. Dực phải ra phố, Dực phải đi sắm nhiều chiếc mũ. Tóc Dực sắp rụng hết rồi. Dực phải đi mua thật nhiều quan tài. Huế kinh thành chỉ có quan tài màu vàng, không có màu lông chuột. Dực phải giữ mỗi sợi mang về khu vườn hoang hoa dại rực lên màu trưa một ngày sắp chuyển sang đông.

Nhơm nhớp, hôi hám, màu vàng vọt chuồng tiêu nông thôn. Ngài Thứ trưởng có bộ răng vàng nhởn vũ phu thích nắm tóc Dực kéo ghì xuống. Lạ thay, bàn tay chuối mắn của ông ta không làm hư được sợi nào của Dực. Hực lên khát thèm, hực xuống nhầy nhụa, tích tắc mông muội. Dực chẳng cảm thấy bão giông, chẳng thấy xói mòn đất đai hạt mầm. Chỉ những cơn buồn nôn ói thốc hôi thối. Móc họng chảy máu, chỉ có đôi mắt cô gái 27 đang nhìn Dực chăm chăm trong gương với vài ba sợi tóc thưa thớt trắng nhầy nhầy. Sợi, sợi bay xuống chân cô, xuống sàn nhà tắm.

*

- Sao em suốt ngày cứ đội mũ thế? Bỏ mũ ra em sẽ xinh hơn đấy em yêu ạ.

Âm sắc hồng tươi. Người đàn ông yêu Dực nồng nàn.

- Nhưng tóc em xấu, em đội mũ để che đi.

- Tóc em hơi mỏng nhưng đen óng và rất đẹp. Sao em lại không để mọi người thưởng thức?

Dực đưa những ngón tay thon ve vuốt đôi mắt anh kinh hãi. Dực đã rụng gần hết tóc, anh ấy lại nói tóc Dực đẹp? Hôm qua Mẹ Âu Cơ bảo Dực là không khéo Dực bị ung thư. Ung thư, máu trắng nên mới rụng hết tóc. Dực cần phải đi bác sĩ.

Anh từ từ gỡ bỏ chiếc mũ trên đầu Dực. Anh hôn mắt, môi, từng phân vuông thân thể Dực. Lạ thay, tóc Dực mọc trở lại trong nỗi đê mê, Dực nhìn thấy.

- Anh rất yêu em Dực ạ. Cuối năm nay, tháng 12 chúng mình sẽ làm đám cưới, em sẽ là vợ anh Dực nhé?

Ôi, tiếng anh mầu hồng, tiếng anh mầu thiên thanh, tiếng anh mầu hạnh phúc. Tóc Dực dày quá, tóc Dực đen quá, tràn trề thanh xuân như ngực như mông Dực. Tràn trề ánh sáng cứu rỗi, lảnh lót tiếng hát ngợi ca tình yêu vĩnh cửu. Tiếng hát cô ca sĩ Dực đã từng nghe một lần anh sẽ cưới vào tháng 12.

*

Qua tháng 12. Năm nay trời rét buốt, có cả tuyết rơi. 5 giờ chiều Dực lại cho bác sĩ quan già nuốt nước bọt. Thứ Sáu, đều đều thời gian tí tách. Dực đi về vườn hoang. Dực đội mũ len thật dầy. Gió kim châm, máu chảy ra từ những chân tóc lỗ chỗ. Đêm qua Mẹ Âu Cơ có vẻ buồn rầu. Chẳêng hiểu có phải ai đó lại làm Mẹ mang thai.

- Bạn đã chôn những sợi tóc ở đâu thì đến lấy về và cấy lại vào da đầu. Bây giờ Thẩm mỹ viện người ta làm được bạn thân mến ạ. Tóc bạn sẽ hồi sinh, bạn làm ngay đi nhé.

Nhập nhoạng khu vườn chiều nay hắt tím những khóm hoa dại. Dực đã chôn ở đây 14 chiếc quan tài, ngàn sợi tóc của Dực. Mẹ Âu Cơ nói phải nhớ thứ tự cái nào chôn trước thì lấy về trước. Làm sao Dực có thể nhớ nổi. Dực cũng không nhớ được vị trí 14 chiếc quan tài. Phải làm thế nào đây? Có âm thanh nào ở đâu đó, rất gần. Dực rẽ lối đi vào khu vườn. Hoa dại nằm rạp xuống. Chẳng có ngọn gió nào thổi tới, hình như trời sắp mưa. Tiếng nói, tiếng nói đâu đó vọng, vọng, thấu, thấu linh hồn Dực. Dực phải tìm ra vị trí 14 ngôi mộ, linh hồn Dực bảo thế. Có cái gì đó đâm vào chân Dực như mũi kim châm, như tiếng phựt trong nhà ông Giáo sư, như nhờ nhợ cánh tay đụng chạm của Thức, như kinh tởm cái nhìn ông anh họ vào vú Dực. Những cánh hoa lạ, một bông hoa lạ. Trắng pha đen pha vàng pha lông chuột pha diệp lục mỗi cánh mỗi mầu. Dực kinh ngạc đưa tay ôm ngực định bỏ chạy. Gió, gió ùa tới. Hoa tím khắp khu vườn hoang rạp mình hôn đất. Trước mắt Dực là 14 bông hoa lạ muôn mầu bật lên nỗi độc ác.

Có ai đó, có âm thanh nào đó sau lưng. Dực không dám quay lại. Gió hất tung chiếc mũ len của Dực. Lạnh luồng tử khí. Cùng lúc với một cái phát mạnh vào mông là một bàn tay bóp mạnh vú Dực. Run rẩy, quờ quạng, lốc xoáy. Bàn tay bóp bung sữa trắng xoá. Sữa của Dực, của đam mê, của uẩn ức. Vang lên điệu cười khanh khách sau gáy Dực. Dực quay lại. Người đàn bà rách rưới quanh năm mưa nắng bão bùng vẫn đội chiếc mũ màu đen và ngồi trước cửa khu vường hoang này. Bà ta bóp mạnh vú Dực, sữa không ngừng tuôn ra. Dực bấn loạn, bấn loạn 16 tuổi trong nhà ông Giáo sư. Phía dưới bụng Dực đang chảy. Sữa đang chảy khắp người Dực. Tràn khắp mênh mông, ngập sàn gạch hoa nhà ông Giáo sư, nghẹn họng cong lưỡi ngài Thứ trưởng. Cuồng phong ầm ầm. Trong ánh chớp, Dực nhìn thấy mái đầu trọc của người đàn bà chỉ trơ lại duy nhất cọng tóc muôn mầu khi chiếc mũ len rơi xuống.

Đỗ Hoàng Diệu
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2005, 07:59 AM   #31
tiểu ngọc
Khách
 
Bài : n/a
Default

Trích dẫn:
Nguyên văn bởi Atula
về technical thì em không nói đuợc gì, vì em không thạo các kỹ thuật và truờng phái văn chuơng.

Bác Atula thưởng ngoạn tác phẩm văn chương khác em. Em đọc văn chương thường cực kỳ để ý đến tác phẩm được viết hay hay không? Kỷ thuật có gì mới lạ? Nội lực tác giả thâm hậu đến đâu? Đề tài, cốt chuyện là những thứ với em rất phụ, thậm chí có những tác phẩm không có đề tài, cốt chuyện gì cả nhưng tác giả viết hay và dàn dựng tác phẩm mới lạ thu hút em hơn cả Kim Dung, Danielle Steel hay John Grisham....viết luôn có cốt chuyện và kể chuyện mạch lạc.

Em không đồng ý cái cách bác joker coi bói đoán mò về những truyện ngắn của Đỗ Hoàng Diệu gửi tới Hợp Lưu. Em không biết dụng ý bác đưa ra là gì? ganh tị với Đỗ Hoàng Diệu chăng?
Nếu quả thật bác coi bói đoán mò đúng đi chăng nữa thì so what? Quan trọng là Đỗ Hoàng Diệu chấp nhận bản sửa của Trần Vũ vì ông ta đã sửa tác phẩm của Đỗ Hoàng Diệu hay hơn. Trần Vũ là chủ biên của tờ báo nên ông ta có quyền đăng hay không đăng, nếu đăng thì phải sửa và đề nghị sửa thì nên sửa như thế này... này... Nếu chủ biên sửa một tác phẩm từ dở mà thành hay là chủ biên giỏi.

Em ngạc nhiên một ngày nào đó ai bảo những tác phẩm của James Joyce là do vợ ông ta, bà Nora Barnacle đã viết nhỉ?
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2005, 01:49 PM   #32
Cổ Nhuế
Phân cục trưởng cục Phân
 
Gia nhập: Jul 2005
Bài : 131
Default

Chú Atula cảm truyện của Diệu giống như thằng câm được người khác chửi hộ cái thằng đã hiếp dâm mình. Tuy cái đứa chửi hộ kia nó không chửi về chuyện hiếp dâm, mà về chuyện ăn cắp, nhưng chú La chẳng biết làm gì hơn là gật gật cái đầu, vì ít nhất cái thằng khốn nạn kia cũng bị chửi. Dù sao đi nữa, cũng thỏa mãn được phần nào...
Cổ Nhuế vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2005, 02:20 PM   #33
Nguyenzz
Chỉ còn lại 1 mình - 1 gậy
 
Nguyenzz's Avatar
 
Gia nhập: Jan 2005
Nơi Cư Ngụ: Nơi Cu Ngự
Bài : 1,319
Send a message via Yahoo to Nguyenzz
Default

Anh tha thiết đề nghị đ/c Joker làm một công việc nhẹ nhàng và đỡ tốn thời gian hơn là post link thôi. Thời gian còn lại thì ngẫm xem mình đang post nhiều bài lên thế để thể hiện cái gì? "Diệu là tất cả đời em" " Các bạn ơi! Đọc văn Diệu nè.." hay cái gì tương tự thế, ngược hẳn thế...
--------------
Nguyenzz vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2005, 03:35 PM   #34
syl
Khách
 
Bài : n/a
Default

Nhác thấy bóng dáng bác thổ phỉ ngoài cửa sổ, em chân thành khuyên bác đừng hấp diêm em Diệu nữa, có diều hâu đang rình đấy, mà có admin nào chạy qua thấy cái này thì dìm nó xuống bể bơi cái, chưa chán à
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2005, 04:43 PM   #35
vipkk
Khách
 
Bài : n/a
Default

Chuyện trong nước xúm lại ăn theo Đỗ Hoàng Diệu phản ánh trình độ "bịt mắt bắt dê" của người trong nước. Ở hải ngoại là nơi sản xuất ra Đỗ Hoàng Diệu thì không ai buồn bàn đến chị và tác phẩm của chị. Chỉ thấy 1 đoạn sau đây ở 1 diễn đàn:

12122005

(tiếp theo kỳ trước)

Đọc các truyện ngắn của ĐHD, ấn tượng đập vào mắt những người đọc thể trước hết là tính chất nhục cảm ngập đầy trong các dòng viết sáng tác của chị. Hầu hết trong các truyện, nhân vật đàn bà lúc nào cũng là một con người khát khao tình dục, ham muốn và tự tìm cách thoả mãn. Cái lối chị ĐHD dẫn đưa nhân vật nữ của chị đi tìm khoái cảm nhục dục có vẽ như bất thường quái đảng nhưng chỉ bất thường quái đảng đối với những người chưa từng đọc hoặc chưa được dịp đọc những sách vở, phim ảnh "con heo" của ngoại quốc mà trong đó được mô tả một cách chi li cảnh người phụ nữ bị chà đạp, bóp nát, sàn sẩy đủ kiểu bởi một tập thể hàng tá người đàn ông "máy làm tình" thay phiên nhau hùng hục, đủ cỡ, đủ hạng tuổi, đủ màu da., và thân thể của người nữ dù bầm vập đau đớn nhưng miệng vẫn phải cứ giả bộ rên siết tỏ dấu khoái cảm tột cùng để xí gạt người đọc hoặc người xem. Có nhửng tập phim con heo được gọi là phá kỷ lục làm tình liên tục không ngơi nghỉ mà trong đó người đàn bà đóng vai chính dự tranh kỷ lục phải làm tình hết người đàn ông nầy tới người đàn ông khác suốt thời gian 24 tiếng đồng hồ không gián đoạn và số người đàn ông tham dự đứng xếp hàng trần truồng chờ tới phiên làm tình với người đàn bà đóng vai chính lên đến hàng trăm người! Những "nhà đạo đức cách mạng" trong nước cũng như đang ở ngoài nước nếu được xem loại phim nầy thì sẽ lên tiếng phê bình ra sao! Người ta thường tìm xem những phim "đồi trụy" như thế vì hiếu dâm và vì tò mò nhưng ít có người bỏ công mất thời giờ để tìm xem người đàn bà đóng phim có phải là một hạng người dâm dục cuồng tính hay không. Người đàn bà trong cuộc không phải là hám danh "phá kỷ lục" nhưng là vì thân phận bất hạnh của cô ta đã rơi vào vòng tay của những tên đầu nậu nham hiểm ác độc bày trò dâm dục khác thường như thế để sản xuất phim "hốt tiền thiên hạ"!
Truyện của chị ĐHD không trần truồng kinh dị, chi ly nhớp nhúa như những loại phim vừa kể. Những gì chị ĐHD khắc hoạ - nhất là những đòi hỏi của cơ thể - là những sự ghi lại một cách tự nhiên trên giấy trắng mực đen, những đòi hỏi cơ thể của bất kỳ một người đàn bà bình thuờng nào cũng phải có từ tuổi dậy thì đến tuổi 70. Tại sao những điều nầy khi được in ấn trên các trang sách một cách công khai về sinh lý cơ thể để giảng huấn nơi các học đường thì được xem là không trái với luân thường? Trong các sách khoa học không có mô tả loại "chất nhờn màu vàng nhầy nhớt" như chị ĐHD đã ghi lại trong truyện của chị viết hay sao? Có gì là lạ, có gì là bất thường?

(còn tiếp)
Đọc truyện ngắn của chị Đỗ Hoàng Diệu

Văn Quân
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 12-12-2005, 05:51 PM   #36
quietnight1174
Trung úy
 
Gia nhập: Apr 2005
Bài : 294
Default

Đọc sai - và theo lời bác Con Tườu - xóa.

thay đổi nội dung bởi: quietnight1174, 15-12-2005 lúc 03:24 PM.
quietnight1174 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 13-12-2005, 06:27 AM   #37
changchang
Trung sĩ
 
Gia nhập: Feb 2005
Bài : 52
Default

thôi đi ăn bánh tét... chóng mặt quá, mình thấy bạn Diệu đã trưởng giả học làm sang, nhưng một vài bạn vào đây bình luận bạn Diệu còn tệ hơn thế, vác cả rổ tên tuổi Tây Tầu ra leng keng, mình sợ rồi, mình chừa không bon chen nữa
changchang vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 13-12-2005, 02:38 PM   #38
Thổ Phỉ
Tuyết Hồng
 
Gia nhập: Apr 2005
Bài : 1,193
Default

Thuận
Ôi mắt em là ánh nước hồ thu!


Những nhận định của Phạm Xuân Nguyên về tập truyện ngắn Bóng đè khiến tôi nhớ tới thầy giáo dạy văn lớp mười. Thầy giảng rất say sưa, tay bao giờ cũng chém vào không khí: “Tắt đèn là một tác phẩm bất hủ của nền văn học Việt Nam đầu thế kỉ, đi tiên phong trong dòng văn học tố cáo chế độ phong kiến thực dân thối nát đồi trụy. Nghệ thuật của nó là xây dựng nên một hệ thống ẩn dụ sâu sắc. Trong đó, chị Dậu anh Dậu đại diện cho tầng lớp nhân dân lao động bị bóc lột; vợ chồng Nghị Quế là hiện thân của tầng lớp địa chủ thống trị; hành động bán con bán chó của chị Dậu là tượng trưng cho tình cảnh khốn cùng của người nông dân dưới chế độ người bóc lột người; mọi đồ đạc trong gia đình Nghị Quế cũng mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc - chiếc đồng hồ quả lắc bính boong có con chim cúc cu nhảy ra nhảy vào là tượng trưng cho sự phù hoa giả dối phương Tây, câu đối sơn son thếp vàng là tượng trưng cho văn hóa Trung Hoa bành trướng nước lớn, nồi giò lụa kho gừng thái chỉ bà Nghị Quế đưa ra trước mặt con Tí mà không cho nó miếng nào là tượng trưng cho thói ăn trên ngồi trốc, từ đó suy ra người nông dân nuôi ra con gà con lợn mà không có quyền biết miếng thịt, miếng cá là miếng gì...”

Nói tới đây, thầy dừng lại nuốt nước bọt, bốn mươi học sinh chúng tôi bên dưới cũng nuốt nước bọt, một bát cơm rang không mỡ nhập vào bụng trước khi đi học làm sao chống cự nổi các từ giò, thịt, cá, lợn, gà, gừng thái chỉ... Cũng may mà thầy khá nhạy cảm, thầy chuyển sang phần kết luận, tay thôi chém vào không khí, nhưng mắt nhìn mông lung, ba vết hằn rất to ở trán: “Ðoạn kết của Tắt đèn với hình ảnh chị Dậu chạy ra ngoài sân, đầu tóc rũ rượi, váy áo tả tơi, tìm cách thoát khỏi con yêu râu xanh không ai khác là cha đẻ của lão chủ tàn ác, chị không nhìn thấy gì ngoài màn đêm đen tối như cái tiền đồ của chị... đó là cao trào xuất sắc, đưa tác phẩm lên tầm tư tưởng rất cao: màn đêm dày đặc khôn cùng đó, nói rộng ra, chính là ẩn dụ độc đáo cho cái tương lai tăm tối, cái kết quả tất yếu cho tư thế thụ động của tầng lớp bị trị trước khi được giác ngộ giai cấp và được ánh sáng cách mạng chỉ lối đưa đường, họ chấp nhận bị đè đầu cưỡi cổ, chấp nhận cả việc để một thằng già bằng bố bằng ông mình giơ tay bóp vú...”

Nói tới đây, thầy cũng nuốt nước bọt, bốn mươi đứa học sinh chúng tôi không nuốt nước bọt, phim porno hồi đấy xa xỉ lắm nên đầu óc chúng tôi khá trong trắng, chỉ có cái bụng là sôi réo...

Dài dòng kể chuyện thầy giáo dạy văn lớp mười cũng chỉ để nói rằng cách diễn nôm văn học quả là quá dễ dãi. Học sinh và độc giả chẳng biết thêm điều gì về tác phẩm ngoài những lời nhận xét chung chung mà ai cũng có thể phán không mấy khó khăn. Lớp chúng tôi hồi đấy thích tiết văn hơn tiết toán, tiết lý, tiết hóa... chỉ bởi vì kiểm tra mười lăm phút hay bốn mươi lăm phút, chẳng cần chuẩn bị bài, chẳng cần học thuộc định lý, định nghĩa, chẳng cần biết chuyển động Bờ-rao, vòng tròn đồng tâm, phương trình phản ứng hoá học ô xy già... mà vẫn viết la liệt vài trang giấy học sinh những ám chỉ, tượng trưng, ẩn dụ, những xuất sắc, độc đáo, bất hủ, bất diệt, tuyệt tác, những từ đó suy ra, từ đó nâng lên, sâu hơn nữa, rộng ra, rộng ra nữa...

Có lẽ không cần nhờ Phạm Xuân Nguyên thì nhiều độc giả cũng biết suy luận: bàn thờ tượng trưng cho quá khứ, phụ nữ tượng trưng cho nhược tiểu, thương gia Trung Hoa tượng trưng cho nước lớn láng giềng, còn tấm thân hình chữ S thì chẳng là tổ quốc Việt Nam mến yêu nghìn năm thì nước nào vào đây nữa hở trời?

Mỗi tác phẩm có một số phận, tự tìm được cho mình những độc giả đồng cảm, những nhà phê bình tương xứng. Tôi không biết thực sự trong đầu thầy giáo dạy văn lớp mười nghĩ gì. Có lẽ thầy không có cách phê bình nào khác, ngoài cái cách nhắc lại giáo án giảng văn, thầy nói hăng say chỉ để bốn mươi đứa học trò chúng tôi không ngủ gà ngủ gật, để làm yên những cái bụng đang sôi réo của cả thầy lẫn trò. Ngô Tất Tố nếu chẳng may theo thầy hiệu trưởng, cô hiệu phó và chuyên viên Sở Giáo dục đến dự giờ thì có lẽ cũng không bất ngờ trước cái cách phân tích dễ dàng đó: hầu như trong tất cả các bài viết liên quan đến Tắt đèn, người ta cũng chỉ đọc được những câu đại loại như vậy. Ngô Tất Tố không bất ngờ nhưng có bất bình hay không, tôi không biết, nào có ai biết, người ta vẫn nói về ông như một nhà văn hiền lành, kín tiếng; huyền thoại không để lại nhiều trừ tác phẩm Tắt đèn vài thập kỉ liền được chọn làm đề thi văn cuối lớp, cuối cấp, vào đại học, đề thi học sinh giỏi toàn thành phố, toàn miền Bắc, toàn quốc...

Tôi không biết Ngô Tất Tố có bất bình hay không trước cách bình giảng Tắt đèn của các thầy giáo, cô giáo dạy văn lớp mười. Nhưng tôi cho là Ðỗ Hoàng Diệu không bất bình trước cái cách phân tích Bóng đè của Phạm Xuân Nguyên, đọc tập truyện ngắn Bóng đè người ta không thể không nghĩ tới các tượng trưng, ẩn dụ, ám chỉ mà tác giả cố tình phơi bày, và trong các bài phỏng vấn báo chí, chị cũng nhiều lần nhấn mạnh muốn gửi đến độc giả các tư tưởng mà theo chị là cao cấp.

Tôi không bàn về những lời nhận xét của Phạm Xuân Nguyên vì thực ra mà nói, cái cách diễn nôm đó có thể kéo theo vài toa tàu nữa cũng không sợ trật đường rày: đàn ông tượng trưng cho quyền lực, đàn bà để ám chỉ thân phận, mẹ chồng là hiện thân của truyền thống, đôi mắt rất có thể là ẩn dụ của tâm hồn, trái tim là tình yêu, đôi tay giơ lên là ước mơ, hy vọng... nghĩa là không chắc có đúng hoàn toàn không nhưng không sai, hoặc không sai lắm. Cần nói thêm ở đây là chỉ đối với những tác phẩm dạng Bóng đè thì phép diễn nôm mới được áp dụng mạnh mẽ, thử nhìn sang những nhận xét của Phạm Xuân Nguyên về nhóm Mở Miệng thì đủ biết là phép diễn nôm đó có vẻ mất công dụng lắm rồi.

Theo cách đánh giá của tôi, tập truyện ngắn Bóng đè chẳng kém cỏi, cũng chẳng xuất sắc hơn các tác phẩm văn học tầm tầm hiện nay ở Việt Nam, nếu có điều gì đáng nói thì chỉ là sự nhịêt tình và kiên nhẫn của một người kể chuyện. Tôi sẽ không mất công dành cho nó nhiều thời gian suy ngẫm. Chỉ xin nêu ra đây một vài ý nhỏ.
Thổ Phỉ vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 13-12-2005, 02:39 PM   #39
Thổ Phỉ
Tuyết Hồng
 
Gia nhập: Apr 2005
Bài : 1,193
Default

Có cần nhắc lại rằng trong văn chương, ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng, nó quyết định tác giả có phải là một nhà văn hay chỉ là một người kể chuyện thông thường. Ðọc Bóng đè, cố bao nhiêu cũng không thoát khỏi cái cảm giác ngôn ngữ của tác giả chỉ giới hạn trong vô vàn mỹ từ dễ dãi nhằm chuyên chở ý tưởng. Em cô độc, em một mình cô độc với chiếc váy cưới, với tấm hình anh để trên bàn lung lay... Về sau tôi biết mình đã đánh mất điều quý giá nhất buổi trưa hôm ấy. Chúng đã cướp mất cuộc đời con gái khi vừa chớm đến, khi tôi vừa mới biết xỏ tay thành thạo vào chiếc su chiêng... Mẹ vào phòng, hôn nhẹ lên trán tôi, tắt tất cả những bóng đèn tôi đã cố tình bật lên vài phút trước. Ngủ đi con, ngày mai còn có sức... Ngày mai tôi lấy chồng. Ðây là đêm cuối cùng tôi ngủ trên chiếc giường con gái. Tôi muốn nhìn lần cuối căn phòng đã che giấu cho tôi suốt quãng đời thiếu nữ, che giấu những nẩy nở thân xác và che giấu cả những giọt nước mắt hạnh phúc con người... Những đoạn như vậy nhiều vô kể trong Bóng đè, cũng nhiều vô kể trong các bức thư nữ sinh trung (đại) học gửi chị Thanh Tâm của báo Phụ nữ.

Nhân vật của Bóng đè xuất thân từ các thành phần khác nhau nhưng dường như bỏ phiếu thuận cho vài chiếc khuôn đã được đúc sẵn bởi Tự Lực Văn Ðoàn, Lệ Hằng, Quỳnh Dao...:

nữ: xinh đẹp, đáng yêu, tràn trề nữ tính, coi trọng trinh tiết, luôn được cảm tình của mọi người, được ai đấy cứ vừa gặp là thốt lên vài câu cảm thán, không cần có đúng chỗ hay không, không cần có vần, không cần có điệu: Cô em xinh thế này mà nhà cũng có chuột sao?... Em nói em không xinh đẹp ư? Trời ơi, em bằng xương bằng thịt ôm bó hoa hồng đứng cúi mặt khi thoáng thấy anh. Em xinh xắn và quyến rũ quá đỗi... Cô gái, cô có biết mình đáng yêu không?... Chào em, hôm nay em xinh quá! sao lại đi một mình? Anh xuống nói chuyện cùng em nhé?...


nam: không Việt kiều trí thức thì ngoại kiều (được tác giả nhấn mạnh là Mỹ trắng và thương nhân giàu có...), nếu mang quốc tịch Việt thì hoặc dòng dõi đế vương, hoặc giáo sư uy quyền, hoặc tất cả các ưu điểm gộp lại đẹp trai, hào hoa, nổi tiếng, giàu có... Vài người trong bọn họ chẳng ngần ngại tuyên bố rất kinh hoàng: “Tôi cho em sung sướng, tôi cho em tất cả, tôi là Hoàng thượng của em, em hãy tận hưởng đi!”...
Ðọc Bóng đè là đỡ mất công xem truyền hình nhiều tập Hàn Quốc, ngắm nghía các bộ ngưc tròn trịa với bờ vai, đôi cánh tay mịn màng... để vừa rút mùi xoa vừa sụt sịt chuyện tình mùi mẫn. Tôi ngờ rằng nếu ra đời cách đây hai, ba thập kỉ, khi điện ảnh Hàn Quốc chưa đổ bộ vào Việt Nam, Bóng đè hẳn tranh hết khách của cải lương Sài Gòn.

Các xen tình ái trong Bóng đè bội thực mỹ từ, phép so sánh và chao ôi! Chao ôi! Nếu ai đã từng đọc “Man nương” của Phạm Thị Hoài sẽ mỉm cười khi đọc Bóng đè. “Man nương” chọc ghẹo thế này: “Nghe nói phải từ từ gỡ hai khuy áo trên. Phải sững sờ vài giây trước điều kì diệu thấp thoáng rồi có hai cách, hoặc vừa dịu dàng cúi xuống đặt môi vừa khe khẽ ngắm như thể đấy làm bằng pha lê bằng sứ Tàu bằng ngọc lan bằng hai giọt sương khổng lồ, hoặc tay phải bao giờ cũng là tay phải có một nhà văn đã nói về nỗi bất hạnh của những kẻ thuận tay trái cuống cuồng mơn nắn vò xé từ bên này qua bên kia từ bên kia qua bên này như thể chẳng kịp như thể nó sắp đột ngột vượt lên thách thức... Còn em, em phải cong người ra phía sau cong mãi cong mãi con tôm của tôi chiếc lạt của tôi. Tôi mãi muốn làm mái vòm linh động rủ theo em...”. Mười ba năm sau, Bóng đè không hiểu vô tình hay cố ý mà rơi đúng vào sự chọc ghẹo đó: “Hai núm vú cô gái vươn cao và cong lên mãi, anh với miệng theo không kịp. Những dòng sữa mát lạnh tuôn chảy vào miệng anh từ đôi bầu vú căng đầy, miệng anh không kịp hứng. Chảy xuống bụng anh, xuống đùi anh làm anh cúi với theo. Chao ôi! Anh cúi xuống, cúi xuống nữa, phía dưới chiếc bụng phẳng mềm của cô là cả một bức tranh anh chưa từng thấy. Bức tranh ấy ưỡn cong giấy lụa nhích sát về phía anh. Nó toả ra hương vị đặc biệt. Anh chẳng biết gì nữa kể từ lúc ấy...”. Tôi quả thực không hiểu được bức tranh giấy lụa ở đây là gì? Làm tình mà cũng đánh đố trí thông minh của nhau như thế này thì trí thức thật!

Xin mở ngoặc ở đây là tôi không có ý định lấy “Man nương” làm tiêu chuẩn cho Bóng đè. Tôi chỉ để hai trích đoạn cạnh nhau để thấy chúng liên quan đến nhau thế nào, những trường hợp như vậy cũng khá hiếm trong văn học.

Bóng đè có vẻ đang đặt ra nguyên tắc (vật lý học hiện đại?) cho tình dục: âm đạo chỉ chảy nước khi trước mặt là “hoàng tử”, dương vật chỉ cương cứng khi đối diện với “lọ lem”. Tôi sợ là lọ lem và hoàng tử hiếm như lá mùa thu, nguyên tắc tình dục khó khăn thế, tám mươi triệu nhân dân Việt Nam (anh hùng) có lẽ sẽ trở thành thị trường vi-a-gờ-ra béo bở nhất thế giới. Uy-nét-xì-cô chắc phải ra tay tiếp viện. Người Việt Nam thấp bé nhẹ cân có hy vọng được mua thuốc kích thích loại nhẹ, giá cung cấp nội bộ?

Ðó là một vài suy nghĩ của tôi về Bóng đè. Những thành công của tác phẩm này mà người ta cố đưa ra như dân tộc, truyền thống, ám chỉ, tượng trưng, theo tôi, không có gì là mới mẻ, chúng đều ra đời từ lâu, và cũng không được Ðỗ Hoàng Diệu cho thêm sáng kiến nào.

Mỗi độc giả có cách đọc riêng của mình. Tương tự, những người cầm bút theo đuổi những mục đích sáng tác khác nhau, các nhà phê bình áp dụng các phương pháp chuyên môn khác nhau. Tuy vậy, theo thiển ý của tôi, nếu ai đó muốn đề cao Bóng đè thì nên tìm những cách độc đáo hơn một chút. Chẳng lẽ cứ nói đến Bóng đè là phải dân tộc, truyền thống, ám chỉ, tượng trưng... Chẳng lẽ để ca ngợi một đôi mắt, chẳng còn câu nào ngoài cái câu muôn thuở: “Ôi, mắt em là ánh nước hồ thu!”

© 2005 talawas
Thổ Phỉ vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 13-12-2005, 05:02 PM   #40
abc123
Trung úy
 
Gia nhập: Jan 2005
Bài : 297
Default

Hé hé, ku nhà Thổ bị bọn talakứt nó hấp diêm mất điện toàn thành phố nên phải mượn lời em Thuận bào chữa à?
abc123 vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời


Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không có quyền gửi bài
Bạn không có quyền gửi trả lời
Bạn không có quyền gửi kèm file
Bạn không có quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt


Múi giờ GMT. Hiện tại là 09:51 PM.


Powered by: vBulletin
Copyright ©2000 - 2019, Jelsoft Enterprises Ltd.