Diễn đàn Thanh Niên Xa Mẹ
Trang đầu | TL-Lib | Lý lịch | Thành viên | Mật thư | Đăng ký          

Go Back   Diễn đàn Thanh Niên Xa Mẹ > 2 - Cung văn hóa Xa Mẹ > Đọc sách
Bí danh
Mật khẩu
Hỏi đáp Thành Viên Lịch Ðánh Dấu Ðã Ðọc


Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 18-08-2005, 02:10 PM   #1
A-tu-la
Đại úy
 
Gia nhập: Jan 2005
Bài : 837
Default Sách mới - mua ngay truớc khi bị tịch thu

Không ở nhà nên không biết thực hư thế nào. Nhưng vào Talawas đọc thấy ông cụ Hoàng Ngọc Hiến viết bài giới thiệu cuốn TỪ ĐÔNG SANG TÂY (vừa ra, NXB Đà Nẵng). Theo như cụ Hiến viết thì thấy hay quá. Rất phấn khởi vì một đội ngũ trí thức Việt Nam (đã xế chiều) nhưng còn rất cấp tiến, rất trẻ, rất thâm thuý. Một cuốn sách rất xứng đáng cho những ai đang lưu tâm đến các vấn đề của dân tộc.

Web: http://www.talawas.org/talaDB/showF...es=5173&rb=0306

(ai tiện thì post cả bài lên đây giúp, vì trang này vẫn bị tuờng lửa, nhưng lưu ý là bảo toàn đuợc những chỗ in nghiêng hay bôi đậm thì mới thực quý)

Cuốn sách này là một tuyển tập các bài luận, bài viết của các trí thức rất nghiêm túc, nổi danh và đáng kính trọng. Họ chủ yếu ở nước ngoài hoặc có liên hệ chặt với cuộc tiến bộ tri thức ở nước ngoài. Các bài viết này không mới, mà đã đuợc lưu truyền rải rác khá lâu. Chủ yếu trên tạp chí Thời đại mới của nhóm biên tập (http://www.thoidai.org/ , xem các số cũ).

Thanh niên Thăng Long tuy chã và mất dạy, nhưng vốn đa phần là những đứa có tư duy, lại đôi lúc biết tỏ ra buồn vui hỉ nộ, há mồm trăn trở truớc những vụ như Quốc Dũng, Yến Vi, thế nên rất nên tìm cuốn sách trên mà đọc. Ấy là gợi ý thực tình của anh.

Mà kể cũng lạ, học phong dạo này trong nuớc thay đổi cũng kinh, những sách kiểu này ngày xưa là len lẻn thu ngay. Không hiểu sao anh Đà nẵng lại hăng hái in ra. Đúng là lấy quỳ tím thử ba-dơ, lấy cái chuông đeo cổ con mèo: nếu mà thu sách, thì vẫn là chuyện muôn năm cũ, nếu mà không thu, thì là đang có sự thay đổi chăng?
A-tu-la vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 18-08-2005, 02:15 PM   #2
glasgow
Xì cbn tin
 
glasgow's Avatar
 
Gia nhập: Jan 2005
Bài : 1,891
Default

Chú a-tu-la này không hiểu câu bài hay thực tình muốn giới thiệu sách. Phán như chú thì giả sử quyển đó có giá trị thật, cậu lại vẽ đường cho hươu chạy, nay mai anh em không được đọc nữa, chẳng tiếc lắm ru.
glasgow vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 18-08-2005, 07:20 PM   #3
EfesPilsener
Khách
 
Bài : n/a
Default

Hoàng Ngọc Hiến
Một bó hoa giàu hương sắc
(Đọc Từ Đông sang Tây, tập biên khảo về khoa học xã hội và nhân văn; Cao Huy Thuần, Nguyễn Tùng, Trần Hải Hạc, Vĩnh Sính chủ biên, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2005)

Công trình này được biên soạn tặng nhà sử học Lê Thành Khôi. Trong công trình tuyển tập này chỉ có dăm ba bài trực tiếp viết về con người, cuộc đời và sự nghiệp khoa học của nhà sử học mà sau đây là một số nét đặc sắc:

Ở anh hình như có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa một nhà khoa học được đào tạo rất căn bản ở phương Tây với phong cách và tâm hồn của một học giả Việt Nam thấm nhuần những giá trị văn hoá phương Đông” (Phan Huy Lê, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 28-29).

“Lê Thành Khôi không chỉ thuần tuý là một nhà sử học theo nghĩa hẹp. Ông có cái nhìn về Việt Nam của một nhà dân tộc học, ngôn ngữ học, dịch giả, tóm lại là một nhà nho trong ý nghĩa cao đẹp nhất của từ ngữ thời Việt Nam xưa…” (Charles Fourniau, Trường Cao học KHXH, Marseille, Pháp, tr. 34).

Qua bài phỏng vấn của Trịnh Văn Thảo, độc giả hiểu rõ hơn ảnh hưởng của gia đình, của nhà trường tới Lê Thành Khôi, đặc biệt những suy nghĩ đích đáng của nhà sử học về những sự khiên cưỡng trong phương pháp luận sử học: "đặt tuyên truyền chính trị trên sự thật khoa học”, “nhập cảng những khái niệm không hợp với hoàn cảnh Việt Nam”… (tr. 67, 71).

Georges Condominas (Trường Cao học KHXH, Paris, Pháp):

“Cũng như nhiều người nghiên cứu Việt Nam, tôi đã sử dụng, trong gần ba mươi năm, quyển Le Việt-Nam, Histoire et civilisation (Việt Nam, Lịch sử và văn hoá) của Lê Thành Khôi… xuất bản năm 1955. Nhưng sau đó tôi gần như hoàn toàn lệ thuộc vào kiệt tác của anh mà nhiều người đã ca ngợi: L’Histoire du Việt-Nam des origines à nos jours (Lịch sử Việt Nam từ nguyên thuỷ đến nay)… xuất bản năm 1982.”

“Hàng trăm trước thuật khác của Lê Thành Khôi về kinh tế, giáo dục v.v., là bằng chứng cho thấy Lê Thành Khôi quan tâm đến nhiều lĩnh vực…”

“… tôi xin nhường cho các tác giả khác nói lên sự cảm phục đối với sự nghiệp khoa học rất quan trọng của Lê Thành Khôi – nhà bác học lớn, tôi sẽ tập trung ca ngợi Lê Thành Khôi - nhà thơ – nhà văn, được biểu lộ qua những tác phẩm như La Pierre d’amour (Khối tình, 1959), Quelques pas au sud des nuages (Vài bước ở Vân Nam, 2005)…” (tr. 452).



*


Ngoài mấy bài nói trên, hơn hai chục bài còn lại, mỗi tác giả viết những điều tâm đắc nhất về một chủ đề nào đó. Đây là một quan niệm đáng suy nghĩ về cách làm tuyển tập tặng một học giả, cách làm này ít ra cũng tránh được sự đơn điệu của sự từ đầu chí cuối “tôn vinh” và “xưng tụng”. Các chủ đề được phân thành 4 mục: sử học; ngôn ngữ học, văn học; kinh tế học và các ngành khoa học xã hội khác. Với những chủ đề đa dạng thuộc những ngành học thuật khác nhau, tuyển tập giống như một bó hoa giàu hương sắc, nó tương xứng với người được đề tặng là một học giả mà hàng trăm trước thuật về sử học, văn học, giáo dục, kinh tế v.v. “cho thấy ông quan tâm đến nhiều lĩnh vực trong đó ông tỏ ra rất có thẩm quyền” (Condominas).

Phan Chu Trinh sớm nhận ra một bi kịch ở Phan Bội Châu: “là người hào kiệt nóng lòng việc nước, mà kiến thức thì chưa thoát vòng khuôn sáo cũ” (tr. 137). Trong giới thức giả ở ta hiện nay cũng có một tâm trạng tương tự: ai ai cũng nóng lòng đổi mới xã hội mà tư tưởng, kiến thức vẫn còn những chỗ dở dang, lỗ mỗ, xem ra “chưa thoát vòng khuôn sáo cũ”. Tuyển tập Từ Đông sang Tây là một cuốn sách kịp thời. Trong tuyển tập có nhiều bài quan trọng tác động mạnh mẽ tới sự phản tư khả dĩ “thoát khỏi vòng khuôn sáo cũ” về tư tưởng và kiến thức.

Trong bài “Thử tìm ý nghĩa tác phẩm Pháp Việt liên hợp của Phan Chu Trinh”, Vĩnh Sính (Đại học Alberta, Canada) làm rõ kịch tính căng thẳng trong quan hệ giữa hai chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu và bi kịch trong tâm trí bản thân Phan Bội Châu. Điều đáng chú ý là kịch tính và bi kịch này thường xuất hiện trong lịch sử cách mạng Việt Nam suốt thế kỷ vừa qua cho đến tận ngày hôm nay. Có lẽ phải thấy hết chiều bi thảm này thì mới hình dung đúng sự lớn lao thật của cách mạng Việt Nam. Phau Chu Trinh nhìn nhận những ưu điểm của Phan Bội Châu đầy đủ và chính xác: “Phan Bội Châu là người rất giàu chí khí, nhiều nghị lực, chịu nhẫn nhục và dám làm (cảm vi). Một khi ông đã tin vào điều gì rồi thì quyết không bỏ, cho dù sấm sét cũng không thay đổi. Trong giới sĩ phu ở nước ta lúc đó ‘không ai có thể sánh với ông ấy’” (xem tr. 141). Và ông cũng thấy rõ những nhược điểm của Phan Bội Châu: “Tiếc thay ông ấy học thức nông cạn, không rõ thời thế, thích dùng thủ đoạn và mánh khoé (quyền thuật), tự dối mình và dối người, đầu óc ngoan cố khăng khăng không chịu thay đổi… Chủ nghĩa phục thù cực đoan cuả Phan Bội Châu thật ngoan cố và sai lầm cùng cực, đã không hợp lý luận, không hợp thời thế mà còn đẩy đồng bào vào chỗ chết (tử địa)” (xem tr. 141). Mâu thuẫn ở con người Phan Bội Châu đã được Phan Chu Trinh tóm lại trong một công thức hết sức đơn giản: “… có lòng yêu nước nhưng không biết cách thương nước” (tr. 142), mà “thương nước cho phải đường mới gọi là thương nước, nếu thương nước không phải đường thì đã không ích gì cho ai mà lại còn làm hại sinh linh nữa” (tr. 144). Có lẽ “yêu nước và biết cách thương nước” là sự biểu đạt đơn giản nhất vấn đề cốt lõi của cách mạng Việt Nam. Tranh luận giữa Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu đặt ra vấn đề tương quan về trình độ giữa người lãnh đạo và quần chúng, có hai giới hạn được nêu lên trong bài của Vĩnh Sính. Trường hợp giới hạn thứ nhất là của Phan Bội Châu: “[Các trước tác của PBC] xem ra toàn là biến thể của văn chương bát cổ, không có mảy may một chút giá trị, nhưng vì trình độ và tính cách thích hợp với quốc dân, nên dân mới bị lừa theo” (tr. 142, dẫn theo lời của Phan Chu Trinh). Trường hợp giới hạn thứ hai là của chính Phan Chu Trinh: ”Chủ nghĩa của tôi tương phản với đặc tính và trình độ của quốc dân, lại nhắm vào chỗ yếu mà cứu…, do đó chủ nghĩa của tôi thất bại” (tr. 143). Chuyển dịch, xê xích lựa được vị thế trung dung giữa hai giới hạn này chính là chỗ khó nhất của nghệ thuật lãnh đạo cách mạng.

Phan Chu Trinh có lời nói thẳng thắn xé toạc những màn trướng sáo ngữ, mỹ từ “dối mình” và “dối người”. Phan Chu Trinh kể lại như sau: “Phan Bội Châu thường nói: ‘Bình sinh sở học của tôi đắc ý nhất ở chữ Nhân trong sách Luận ngữ’. Tôi mới nói đùa: ‘Sở đắc của anh là ở bộ Chiến quốc sách, nếu quả là sách Luận ngữ thì tôi sợ anh sẽ đem nửa bộ giết người trong nước và nửa bộ để giết thân anh. Ông bực tôi lắm” (tr. 142).

Hiểu thế nào đây sự bực bội của Phan Bội Châu? Trong dịp ngày giỗ một năm của Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu đã viết những dòng sau đây: “nay đã hơn 20 năm rồi, lời ông càng lâu, càng nghiệm. Tôi mới biết cái óc suy nghĩ cùng cái mắt xem xét của tôi thiệt không bằng ông! Phỏng ngày nay ông còn sống thì cầm cờ hướng đạo cho chúng ta, hẳn phải nhờ tay ông mới được. Than ôi! Ngày nay những kẻ cúng vái ông, có phải là chỉ ngắm tượng ông, đọc văn ông góp nhặt năm ba câu làm bộ ái quốc, ái quần đầu miệng mà thôi ư? Phải biết rằng ông Hy Mã mà được danh tiếng lưu truyền với sử xanh là vì ông có chủ trương thiệt, tinh thần thiệt!” (tr. 144). Đây là một trong những lời nói thành tâm đáng khâm phục nhất của trí thức Việt Nam yêu nước trong thế kỷ vừa qua.



*


“Bản sắc dân tộc”, một ý niệm then chốt của đường lối văn hoá, văn nghệ đương đại của Việt Nam, “thoạt nghe thì rõ ràng, hấp dẫn” nhưng “không dễ xác định” (xem tr. 330). Trong bài “Văn hoá và toàn cầu hoá: vài phân tích kinh tế” của Trần Hữu Dũng (Đại học Wright State, Ohio, Mỹ), tác giả góp phần làm rõ ý niệm này bằng những xác định của tư duy khoa học đối với một ý niệm khác tương đương, có giá trị phổ quát và duy lý hơn trong học thuật: đó là ý niệm “vốn văn hoá”. “Cái ‘bản sắc dân tộc’ cần giữ gìn và (vun quén)… có thể hiểu như không gì khác hơn là vốn văn hoá” (tr. 334). “Loại vốn này có hai dạng. Vốn văn hoá vật thể là gồm những công trình kiến trúc, đền đài cung miếu, di tích lịch sử, những địa điểm có ý nghĩa văn hoá. Còn vốn văn hoá phi vật thể là những tập quán phong tục, tín ngưỡng, các giá trị khác của xã hội - một thứ keo gắn kết cộng đồng” (tr. 333). Tầm quan trọng của vốn văn hoá được làm nổi bật qua sự so sánh tác động của bảo vệ môi trường thiên nhiên và tác động của bảo dưỡng vốn văn hoá tới quốc kế dân sinh. “Bỏ bê môi trường sinh thái sẽ làm giảm sản năng và phúc lợi kinh tế”; cũng vậy, “không bảo dưỡng vốn văn hoá (để di sản đồi truỵ, làm mất bản sắc văn hoá dân tộc) cũng có những hậu quả tai hại như vậy” (tr. 333, 334). Vấn đề giá trị của vốn văn hoá phi vật thể cũng như những vấn đề văn hoá khác được tác giả xem xét trong khung lý luận của khoa học kinh tế:


“Giá trị của vốn văn hoá phi vật thể thì hoà quyện vào vốn kinh tế”
“Vốn văn hóa có thể thay thế các loại vốn khác, các tài nguyên khác (như lao động) hoặc ngược lại, đóng góp vào tổng thu nhập và tốc độ phát triển của một quốc gia.”

“… vốn văn hoá giúp hiểu sâu hơn về tính bền vững của phát triển. Đóng góp của nó vào khả năng phát triển dài hạn không khác đóng góp của vốn thiên nhiên (tr. 333).

Từ sự xác định “vốn văn hoá phi vật thể” như một “thứ keo gắn kết cộng đồng”, tác giả đặt ra nhiều vấn đề đáng suy nghĩ. Cộng đồng quốc gia (hoặc “dân tộc”) bao gồm nhiều cộng đồng sắc tộc, cộng đồng tôn giáo, cộng đồng “đồng hương”, mỗi cộng đồng “nhỏ” này có những nét bản sắc văn hoá riêng… Nếu như cộng đồng lớn bao trùm lên tất cả một cách trừu tượng, “làn ranh” giữa “cộng đồng” và “ngoài cộng đồng” không còn nữa (nói đến những cộng đồng nhỏ) thì ý niệm “cộng đồng” dễ trở thành “rỗng không”. Còn nếu nhấn mạnh cục bộ những “cộng đồng” nhỏ như là những “tập thể nhỏ hẹp” thì “đoàn kết cộng đồng sẽ có một mặt trái không tốt, tức là lòng ngờ vực, là sự dửng dưng, thậm chí đối chọi những người ngoài cộng đồng” (xem tr. 331).

Về vấn đề “Dân tộc tính và Toàn cầu hoá” (tiết III), tác giả đặt ra nhiều vấn đề lý thú, tôi nêu lên ở đây hai vấn đề đáng suy nghĩ.


“… qua nhiều thiên kỷ, bản sắc của mỗi sắc tộc (có vẻ như thuần nhất ngày nay) cũng là pha trộn của nhiều luồng văn hoá ngoại lai. Đâu là bản sắc có nguồn gốc từ chính một quốc gia, và chỉ quốc gia ấy có?” (tr. 330, 331).


Phân tích biện pháp được áp dụng ở nhiều nước “bắt buộc một tỷ lệ nào đó của phim ảnh phải được sản xuất trong nước” tác giả có nhận xét: biện pháp“có tính quá cứng nhắc, giai đoạn, và không giải quyết vấn đề chính, đó là không phải ngăn chặn mọi văn hoá ngoại lai, nhưng là ngăn chặn những văn hoá hạ cấp ngoại lai, và nhất là ngăn ngừa sự ngoéo móc của nó với văn hoá hạ cấp trong nước” (tr. 334, 335). Nhận xét này được suy ra từ một quan điểm khái quát của tác giả: “… ‘tác hại’ của toàn cầu hoá đến văn hoá bản địa không phải do nguồn gốc ngoại lai của ảnh hưởng ấy, song do tính đại chúng tầm thường của văn hoá xâm nhập. Phải phân biệt đối kháng tính “hạ cấp” và đối kháng tính ngoại lai, bởi vì chính nhiều nhà văn hoá các nước tư bản Tây phương … cũng than phiền về sự đồi truỵ của văn hoá đại chúng hiện đại, mặc dù họ hoan nghênh toàn cầu hoá” (tr. 329).

Cùng với sự bảo hộ văn hoá dân tộc, phải mở cửa rộng rãi để đón nhận những trào lưu văn hoá lành mạnh. Dĩ nhiên, một sự đón nhận có chọn lọc. Vấn đề được đặt ra:“ai sẽ có quyền làm sự chọn lọc đó?” Quan điểm của tác giả:

“Bản chất và hướng tiến của văn hoá phải do chính đại thể cộng đồng định đoạt, qua những tranh luận cởi mở, những trao đổi thông thoáng, xây dựng. Trách nhiệm của nhà nước là đảm bảo sự thông thoáng ấy, là khuyến khích sáng tạo, là bảo tồn những di sản cổ truyền. Trách nhiệm của người “tiêu dùng văn hoá” cũng rất nặng nề, nhưng đối với chính họ. Đó là trách nhiệm trau dồi năng khiếu thưởng ngoạn nâng cao trình độ kiến thức để thẩm định. Và vâng, có thể trao đổi với những người thưởng ngoạn khác. Nhưng sự trao đổi đó phải trong tinh thần tương kính. Toàn cầu hoá là một biểu hiện của tự do (thông lưu), bản chất của văn hoá cũng là tự do (sáng tạo và tiếp thu). Nghĩ như vậy thì có một sự hoà hợp tự nhiên giữa hai phạm trù ấy” (tr. 335).



*


Chuyển sang thời kỳ đổi mới, ý niệm “nội lực, phát huy nội lực” ngày càng được nhắc đến nhiều trên sách báo, trong các văn kiện chính trị. Nhưng “nội lực nào?”, “nội lực ở đâu?” vẫn là những câu hỏi chưa có sự trả lời thích đáng. Trong bài “Du nhập, chuyển giao công nghệ và năng lực xã hội: vài khảo sát về kinh nghiệm ở Đông Á” của Trần Văn Thọ (Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản), dựa vào những công trình khảo cứu sự chuyển giao công nghệ tại Đông Á, tác giả đưa ra một giả thuyết riêng trả lời những câu hỏi về “nội lực”.

Trong tiết cuối của bài viết, tác giả đưa ra hai kết luận:

“Thứ nhất, các nước đi sau trong quá trình công nghiệp hoá cần tận dụng công nghệ của nước đi trước mới rút ngắn khoảng cách phát triển…”

“Thứ hai, để chọn lựa công nghệ thích hợp với nhu cầu phát triển của nước mình và để công nghệ du nhập được sử dụng có hiệu quả và bén rễ, lan rộng trong nền kinh tế, nước du nhập công nghệ phải có một năng lực xã hội cao…” [H.N.H. tô đậm] (tr. 318).
Trong giả thuyết của tác giả, nội lực của sự phát triển xã hội được định nghĩa bằng năng lực xã hội của 5 thành phần trong xã hội hiện đại: giới lãnh đạo chính trị, giới quan chức, giới lãnh đạo kinh doanh, giới trí thức và giới lao động (kể cả nông dân).

“Để có năng lực xã hội thì mỗi giới phải có những tố chất cần thiết và xã hội phải có các cơ chế cần thiết để các giới nối kết với nhau thành một sức mạnh tổng hợp” [H.N.H. tô đậm]. “Tố chất của giới lãnh đạo chính trị là năng lực lãnh đạo, là khả năng hình thành sự đồng thuận (consensus) cao của toàn dân, nhất là ý thức trách nhiệm cao trong việc tạo cơ chế, điều kiện để khơi dậy các tiềm năng của đất nước, trong đó có phương châm trọng dụng nhân tài. Tố chất cần thiết của quan chức là năng lực quản lý hành chánh, năng lực nghiệp vụ cao và tác phong đạo đức của người công bộc. Tố chất cần thiết của nhà kinh doanh là tinh thần doanh nghiệp (entrepreneurship) trong đó có tinh thần mạo hiểm, tinh thần và nỗ lực khám phá thị trường mới, nguyên liệu mới, công nghệ và phương thức quản lý mới. Tố chất đòi hỏi ở trí thức là sự quan tâm cao độ vào các vấn đề hiện thực của kinh tế, xã hội, và nỗ lực nghiên cứu và tìm tòi các biện pháp góp phần cải thiện xã hội, góp phần làm cho kinh tế phát triển. Tố chất cần thiết của giới lao động là trình độ giáo dục ngày càng cao, kỹ năng, năng lực chuyên môn ngày càng được bồi dưỡng hăng say và làm việc với tinh thần trách nhiệm” [H.N.H. tô đậm] (tr. 308).

Để tránh một sự ngộ nhận dễ mắc phải, chỉ hiểu “nội lực” như là tổng các “đức tính truyền thống” của dân tộc Việt Nam như yêu nước, dũng cảm, cần cù lao động… tác giả nói rõ: “Các tố chất của các thành phần có thể một phần do bẩm sinh và do kinh nghiệm mà hình thành, nhưng có thể nói phần lớn là do chính sách, cơ chế tạo nên. Chẳng hạn Nhật Bản có đội ngũ quan chức giỏi và nhìn chung hội đủ các đạo đức cần thiết là nhờ chế độ thi tuyển nghiêm minh, chế độ đào tạo bài bản và chế độ đãi ngộ tốt, v.v….” [H.N.H. tô đậm] (tr. 308).

Kết thúc bài nghiên cứu là một công thức ngắn gọn và sáng rõ trình bày tổng quát chiến lược phát triển của những nước đương phát triển: “… song song với phát huy nội lực (năng lực xã hội) phải biết tận dụng ngoại lực mà công nghệ là một thành tố quan trọng” (tr. 318). Thiết nghĩ rằng công thức này cũng tương thích với mục tiêu công nghiệp hoá và hiện đại hoá của chúng ta.



*


Trong phát huy nội lực thì năng lực suy nghĩ độc lập là một tố chất cốt yếu. Trong bài “Tương lai của Khai sáng?” của Bùi Văn Nam Sơn (dịch giả, nghiên cứu triết học, Việt Nam), yếu tính của năng lực suy nghĩ độc lập được xác định bằng một định nghĩa về Khai sáng của Kant; triết gia này, theo nhận định của tác giả, cùng với Hegel là hai gương mặt, hiện nay, “thực tế vẫn đứng đàng sau hậu trường, chi phối toàn bộ cuộc thảo luận hiện nay về “tương lai của Khai sáng”. “Khai sáng, Kant viết, là việc con người thoát ra khỏi tình trạng không trưởng thành do lỗi của chính mình gây ra. Không trưởng thành nghĩa là không có khả năng sử dụng lý trí của mình mà không có sự dắt dẫn của người khác. Còn do tự mình gây ra là khi nguyên nhân không phải do thiếu lý trí mà do thiếu lòng kiên quyết và dũng cảm để dùng lý trí của mình không cần sự dắt dẫn của người khác” (xem tr. 395). Theo Kant, Lý tưởng của Khai sáng là “tính trưởng thành”, tức là năng lực suy nghĩ độc lập. Như vậy, người không có năng lực suy nghĩ độc lập là người chưa trưởng thành, hoặc nói như Tản Đà là “vẫn trẻ con”. Mặt khác, người có lý trí mà kém khả năng suy nghĩ độc lập trước hết phải trách cứ bản thân mình, phải thấy những khiếm khuyết ở mình: “thiếu lòng kiên quyết và dũng cảm”, “lười biếng và hèn nhát”…, không nên chỉ một mực oán trách thể chế.

Từ “Khai sáng” được Bùi Văn Nam Sơn hiểu như là Lý tưởng và như là diễn trình. “Phương Tây đã trải qua 4 thời kỳ Khai sáng lớn trong lịch sử: t.k.6— t.k.4 tr.C.N. với các nhà nguỵ biện, Socrate, Platon; thời kỳ Phục hưng với Pico della Mirandola, Machiavelli, Bacon; t.k.18 với Rousseau, các nhà Bách khoa Pháp, Kant… và phong trào cấp tiến sau đó với Marx, Darwin, Freud” (trong các giáo trình, sách tham khảo ở Việt Nam, Khai sáng thường được lược giản vào thời kỳ 3). “Tính chất của diễn trình Khai sáng ở phương Tây là khả năng tự phê phán và điều chỉnh” (tr. 394).

Tiến trình Khai sáng là một quá trình đầy mâu thuẫn và nghịch lý. Horkheimer và Adorno từ những năm 40 của t.k.20 đã nêu lên những hậu quả nghịch lý của tiến trình Khai sáng. “Từ đề án hợp lý nhằm loại bỏ những đặc quyền phi-lý tính lại trỗi dậy một thứ lý tính duy lợi thâm nhập vào mọi ngóc ngách của cơ thể xã hội. Từ nỗ lực phá vỡ sự cưỡng chế của Tự nhiên bằng cách phát triển các lực lượng sản xuất đã tạo nên những sự phá hoại có nguy cơ chôn vùi bản thân cơ sở sinh tồn tự nhiên của con người. Kế hoạch được phát động với với động cơ nhân đạo nhằm giải thích bằng lý luận đối với thế giới tự nhiên và xã hội đã đảo ngược thành một sự phát triển khoa học đơn thuần dựa trên các chuẩn mực kinh tế - kỹ thuật, không còn có quan hệ nào với các mục tiêu nhân đạo. Sự giải phóng văn hóa-văn nghệ ra khỏi ách kềm kẹp của giáo điều rút cục chỉ tạo ra một thứ “văn nghệ đại chúng”, một nền công nghiệp giải trí hoàn toàn bị điều kiện hoá và dễ dàng bị khống chế…” (tr. 396-397). Nền văn hoá Khai sáng thoát thai từ cuộc cách mạng chính trị và công nghiệp với đề án vĩ đại gọi là nền văn minh khoa học kỹ thuật có “mặt trái của nó là những nạn nhân và cái giá phải trả cho tiến bộ. Nền văn hoá đó đang tự tạo ra ba mâu thuẫn chết người: sự bất công, nghèo đói của thế giới thứ ba, nguy cơ chiến tranh huỷ diệt và thảm hoạ toàn cầu về môi trường cùng với một hậu quả trầm trọng ngay nơi chiếc nôi của nó: sự mất phương hướng về tinh thần và triết học…” (tr. 397-398). Ở phương Tây, “diễn trình Khai sáng đã phát triển tới mức độ không còn cần dựa vào một ông vua chuyên chế anh minh, một chính đảng tiên phong hay một định chế chuyên gia duy nhất nào nữa như các thế kỷ trước”. Vì vậy, theo nhận định của tác giả, tương lai của Khai sáng có thể sẽ khác với các truyền thống - vốn thoát thai từ Khai sáng – ít ra ở ba phương diện: nó không bị giới hạn trong khuôn khổ một hệ thống chính trị mà trở thành một lối sống văn hoá; xã hội được khai sáng không đồng nghĩa với “đại đồng”, “đại thuận”, “đại trị”, trái lại xem tranh chấp và bất đồng là hình thức bình thường của giao tiếp chính trị, xã hội; “các yêu sách về ‘tính chính đáng’ (Legitimationen) tối hậu, chung tất là không thể có được” (xem tr. 402).

Trong nỗ lực để hình dung tương lai của Khai sáng, tác giả chú ý đến quan điểm của Alain Tourraine về tính hiện đại và lý tính Khai sáng: Tây phương đang cố gắng rời bỏ “tính hiện đại hạn chế”, tính “nửa hiện đại” để bước vào một “tính hiện đại toàn vẹn” hơn, “kết hợp hợp lý hoá và chủ thể hoá, tính hiệu quả và tự do” (xem tr. 405). Tôi hiểu yêu cầu toàn vẹn của tính hiện đại mới như sau: tính hiệu quả mà tách rời tự do thì “tính hữu ích” sẽ thành nguyên tắc phổ biến và kết quả mang lại sẽ là sự “điên rồ huỷ diệt của một chế độ khủng bố, cực quyền (ám chỉ thời kỳ khủng bố của cách mạng Pháp, nhưng ta có thể liên tưởng đến … ‘cách mạng văn hoá’ và chế độ Polpot! ”(xem tr. 396); hợp lý hoá phát triển một cách phiến diện, tách rời quá trình chủ thể hoá có thể có hậu quả là tha hoá lý trí của chủ thể, từ đó lý trí và chủ thể mang lý trí bị biến thành công cụ, trường hợp xấu nhất là công cụ bị sử dụng phục vụ cho cường quyền (quân phiệt, tài phiệt và các thứ “phiệt” khác”. Hậu quả này được Alain Tourraine gọi là “chủ nghĩa duy lý công cụ”.

Về tương lai của Khai sáng, những câu hỏi nhiều hơn những câu trả lời. Kết thúc bài tiểu luận tác giả hy vọng “các thập niên đầu thế kỷ 21… có thể mang lại giải đáp, nếu ta vẫn tin rằng: nguyên tắc của truyền thống Khai sáng là không xem người khác có “ít” lý tính hơn mình, rằng có thể phản bác nhau bằng lập luận chứ không được quy kết bản chất của người khác vào ‘trục ác’…” [H.N.H. tô đậm] (tr. 405).



*


Trong bài “Khái quát về lịch sử phát triển kinh tế thế giới: những yếu tố kìm hãm và thúc đẩy phát triển” của Vũ Quang Việt (Cục thống kê, Liên hiệp quốc, Mỹ), tác giả đặc biệt chú ý tới thời điểm đầu thiên niên kỷ II (sau công nguyên), khoảng trước sau năm 1000, vì ở thời điểm này “thế giới không khác nhau về kinh tế… trừ vùng châu Úc và Nam châu Phi” (xem tr.264).

Trong thời kỳ 1000-1500, vẫn chưa có sự chênh lệch đáng kể của ba vùng kinh tế được so sánh (Âu, Á, Phi) vì cả 3 vùng đều chịu sự toàn thống, toàn trị của những hệ tư tưởng tôn giáo.

“Công giáo toàn thống ở châu Âu vào thời kỳ 1000-1500, tư tưởng khoa học không thể phát triển do đó phát triển kinh tế cũng chỉ chừng mực” (tr. 265).

“Khổng giáo và Hồi giáo toàn trị về tư tưởng trong suốt thời kỳ 1000-1500 ở các nước châu Á và khu vực Ả Rập do đó đã không tạo cơ hội cho việc phát triển khoa học và tự do kinh doanh, cơ sở của phát triển kinh tế” (tr. 268).

Trong thời kỳ từ 1500 đến 1820, sự phát triển của phương Tây trước hết được giải thích bằng sự giải phóng tư tưởng: “… bắt đầu bằng cuộc giải phóng tư tưởng khỏi hệ thống toàn trị của giáo hội Công giáo và mở màn cho khoa học và cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh, để từ đó lan tràn ra khắp châu Âu và Bắc Mỹ”. Và giải thích sự tụt hậu của châu Á, châu Phi dẫn đến thảm hoạ “vong quốc nô” tác giả nhấn mạnh sự trì trệ về tư tưởng: “do tiếp tục với tư tưởng thủ cựu, chống khoa học, vào đầu thế kỷ 18 hầu hết các nước châu Á, châu Phi rơi vào vòng đô hộ của các nước phương Tây” (tr. 271).

Từ 1820 đến 1950 là thời cao trào của chủ nghĩa đế quốc. Cuộc cách mạng công nghệ đem lại sức mạnh kinh tế cho “Tây phương và những nước sẵn sàng thay đổi thể chế chính trị và xã hội nhằm mở cửa tiếp nhận sự tiến bộ khoa học. Cách mạng công nghệ nhanh chóng lan từ Anh sang khắp Âu châu và Nam Mỹ kể cả Đông Âu và Liên xô cũ”. Trong khi đó “châu Phi, các nước Ả Rập, và châu Á khác, trừ Nhật Bản, tiếp tục chìm đắm trong tinh thần bảo thủ và còn bị đè bẹp thêm bởi chủ nghĩa đế quốc và thực dân” (tr. 270).

Trong nghiên cứu so sánh Việt Nam với một số nước ở Đông Á (Trung Hoa, Nhật, Thái Lan, Indonesia…) về trình độ và tốc độ phát triển trong thời cận-hiện đại tác giả chú ý đến năm 1870 vì ở khoảng thời gian này, thu nhập đầu người giữa Việt Nam và những nước nói trên không khác nhau mấy. Nhưng đến nay, về thu nhập đầu người, Việt Nam và Trung Hoa tụt hậu nhiều so với Nhật và Đại Hàn. Vì sao vậy? Vì “Nhật và sau này là Nam Hàn đã đi theo con đường cải cách về thể chế mà không cần ngoái lại, cải cách thể chế quan trọng nhất là tách bạch giữa nhà nước và ý thức hệ, dù tôn giáo hay phi tôn giáo” (tr. 279). Việt Nam trong tương quan với Trung Quốc lại tụt hậu nhiều hơn nữa. Vì sao vậy? Có một nguyên nhân quan trọng: vì Trung Quốc dầu sao vẫn cải cách sớm hơn (đầu những năm 1980), còn Việt Nam, phải chờ đến một thập kỷ sau (tr. 279).



*


Trong bài “Chuyển sang kinh tế thị trường và chuyên chế chính trị: đọc lại học thuyết trọng nông” của Trần Hải Hạc (Đại học Paris 13, Pháp), ghi nhận những đóng góp xác đáng trong cách Marx đọc học thuyết trọng nông (mà Quesnay là giáo chủ), tác giả trình bày một cách đọc khác (của riêng ông). Marx đã có một nhận định khái quát đúng: học thuyết trọng nông chỉ một hệ tư tưởng của thời kỳ quá độ từ phong kiến sang tư bản (xem tr. 360). Tác giả nói rõ hơn: học thuyết Quesnay “là hệ tư tưởng của sự quá độ sang chủ nghĩa tư bản do giai cấp quý tộc tiến hành” (tr. 360) [H.N.H. tô đậm). “Đề án chính trị của giai cấp này là chuyển hoá xã hội sang nền kinh tế thị trường mà không để mất chính quyền; hay nói cách khác, nó là vừa cái cách kinh tế - xã hội, vừa duy trì quyền lực chính trị” (tr. 360). Tác giả liên hệ đến “một đề án chính trị tương tự được nêu lên trong những xã hội – như Trung Quốc, hay nhiều cộng hoà thuộc Liên Xô cũ - chuyển từ chủ nghiã xã hội quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường hay quá độ sang chủ nghĩa tư bản, tuỳ theo cách nói. Tuy hình thái có khác nhau, thời kỳ quá độ ở các xã hội này đặt ra một số vấn đề tư tưởng hệ mà học thuyết trọng nông – khi đọc lại - có thể góp phần làm sáng tỏ” (tr. 360).

Về kinh tế thì chủ trương “kinh tế tự do” (kinh tế thị trường) nhưng về chính trị lại thiên về “chuyên chế chính trị”, đây là nội dung của cái được gọi là “nghịch lý trọng nông”. Luận điểm chính trị của học thuyết trọng nông là: “chính thể nhà nước phù hợp với quy luật tự nhiên là nhà nước chuyên chế và sáng suốt, chuyên chế bởi vì sáng suốt” (tr. 345). Quesnay lấy Trung Hoa làm mô hình: Trung Hoa “xứng đáng là mẫu mực của mọi quốc gia”, “đó là một trật tự mà bản chất là ổn định”. Về địa vị độc tôn của Hoàng Đế Trung Hoa, ông viết: “Ý chí quyền lực duy nhất và tối cao đó… chính là tiếng nói của tự nhiên, lệnh của Trời”. Các môn đồ của Quesnay gọi ông là “Khổng tử của châu Âu” (tr. 346).

Hệ tư tưởng tư sản của giai cấp tư sản đang lên đối đầu với tư tưởng trọng nông của giai cấp quý tộc thoái thủ. Chiếm được vị trí thống trị, nó kế tục chủ thuyết về tự do kinh tế (kinh tế thị trường) của Quesnay, đồng thời loại trừ chủ thuyết trọng nông về chuyên chế chính trị. Song, vì nó “quan niệm nền kinh tế thị trường như tự điều tiết” nên nó “phủ nhận vai trò điều tiết của nhà nước, là điều xác đáng nhất còn lại trong nghịch lý trọng nông sau khi đã gạt bỏ tính chuyên chế của nhà nước” (tr. 362).



*


Trong bài “‘Khoa học mới’ và vài suy nghĩ về kinh tế, xã hội” của Phan Đình Diệu (Đại học Quốc gia Hà Nội), “khoa học mới”, khoa học của thế kỷ 21, theo định nghĩa cuả tác giả, có nội dung là “nghiên cứu các hiện tượng và hành vi của các hệ thống phức tạp trong những lĩnh vực khác nhau” (tr. 387), từ khoa học đó tác giả hy vọng “sẽ tìm được con đường mới cho nhận thức đối với nhiểu vấn đề về sự phát triển của thế giới tự nhiên và xã hội trong thời đại ngày nay”. Một hệ thống phức tạp họp thành từ nhiều thành phần, nó “có những thuộc tính của cái toàn thể mà ta không thể hiểu được từ những hiểu biết (dù có sâu sắc và đầy đủ!) về các thuộc tính của các thành phần. Hệ thống phong phú hơn tổng các thành phần của nó. Cái làm nên sự phong phú hơn đó của hệ thống là “rất phổ biến đối với các hệ thống phức tạp, mà ngày nay ta gọi chung là tính hợp trội (emergence) của các hệ thống đó, tính hợp trội đó làm nên những trật tự mới, tổ chức mới, chất lượng mới trong quá trình tiến hoá của giới tự nhiên cũng như của xã hội loài người …” (tr. 387). Hợp trội, tính hợp trội là một ý niệm then chốt trong ý hệ (paradigme) của “khoa học mới”.

Từ quan điểm của “khoa học mới”, tác giả xem lại những quan điểm “chọn lọc tự nhiên” và “thích nghi” của tiến hoá luận Darwin:

“… chọn lọc tự nhiên để giữ lấy những gì thích hợp nhất, có khả năng thích nghi nhất với môi trường, là một đặc điểm của tiến hoá chứ không phải là đặc điểm duy nhất, nếu chỉ có chọn lọc tự nhiên thì không thể có sự phát triển đa dạng qua tiến hoá.”

“thích nghi không chỉ nhằm loại bỏ những gì không phù hợp, mà còn chủ yếu là một khả năng tự thay đổi, tự hoàn thiện, khả năng học để phù hợp với môi trường, trong tiến hoá nhiều phẩm chất mới sẽ được hình thành và sáng tạo nên, nhiều quan hệ hớp tác mới sẽ được phát triển, và do đó nhiều hình thức tổ chức mới, trật tự mới được chuẩn bị” [chiến lược “thắng-thắng” (tức mọi bên đều thắng) thay cho các chiến lược “ai thắng ai” trước đây là một ví dụ rất hay về “trật tự mới”] (tr. 388).

Chính khả năng thích nghi một cách linh hoạt và sáng tạo là yếu tố quan trọng tạo nên hành vi hợp trội của các hệ thống phức tạp trong những quá trình tiến hoá của chúng.

Tác giả nói đến phương thức đặc biệt điều khiển những hệ thống phức tạp, có lẽ đây là đóng góp có ý nghĩa thức tiễn quan trọng nhất cuả bài nghiên cứu: “Người ta nhận thấy rằng ở các hệ thống thích nghi phức tạp, hành vi hợp trội như vậy thường xuất hiện mà không cần có một sự chỉ huy từ một trung tâm nào cả, nó xuất hiện một cách tự phát “từ dưới lên” (bottom-up)như kết quả tổng hợp các tương tác giữa các thành phần, và do đó, những xuất hiện như vậy thường là không tiên đoán được; để điều khiển các hệ thống đó không thể dùng phương pháp “kế hoạch hoá” một cách thích nghi bằng cách tăng cường khả năng học và năng lực sáng tạo để có thể phán đoán, phản ứng tức thời dựa vào trực cảm và kinh nghiệm trên cơ sở tích luỹ thông tin và tri thức mới mà thôi” [H.N.H. tô đậm] (tr. 389). Cách điều khiển này không biết gọi là gì cho thích đáng, nhưng chắc chắn đấy không phải là cách điều khiển quan liêu mệnh lệnh, bởi lẽ “tăng cường khả năng học và năng lực sáng tạo” không phải là thói quen của những người quan liêu mệnh lệnh.

Tác giả nhìn nhận thế kỷ 20 vừa qua như “một thế kỷ đã cho ra đời nhiều lý thuyết cân bằng và ổn định trong ngành khoa học như vật lý, toán học, kinh tế, v.v…”. Hẳn là những lý thuyết này có để lại những nếp cảm và nghĩ thiên về cân bằng và ổn dịnh trong tâm tư con người. “Nhưng trong đời thực, hình như thức tế đã đi xa mọi cân bằng và ít có ổn định, và chính trong những trạng thái xa cân bằng đó đã xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng khác nhau, nhiều xu hướng khác nhau trong phát triển kinh tế xã hội, trong khoa học, văn học, nghệ thuật”. Giữa những xu hướng khác nhau đó “có cạnh tranh, thậm chí đấu tranh không khoan nhượng một mất một còn” và “cũng có hợp tác, một xu thế hợp tác càng ngày càng được khẳng định”.

“… và rồi trong trạng thái xa cân bằng,“ở bên bờ hỗn độn” đó, những sức sống mới của các khả năng thích nghi và đổi mới của thời đại đã sáng tạo nên những hợp trội của tiến hoá, tạo ra đây đó những trật tự mới có chất lượng tổ chức cao hơn cho cuộc sống”, có lẽ đây là “cái lẽ đời ẩn sâu trong các biến chuyển và đổi thay của cuộc đời và thời đại” mà “khoa học mới giúp ta cảm nhận được” (tr. 390).

Tiểu luận này giúp độc giả lưu ý đến một số nếp cảm và nghĩ trong tâm lý thường tình của người Việt: nếp “cay cú được thua” (“ai thắng ai”), không nhận ra được khả năng của một trật tự mới: “mọi bên đều thắng”, nếp cảm nghĩ thiên về cân bằng và ổn định chẳng phải do ảnh hưởng của khoa học nào cả mà chẳng qua do sự lười biếng, tâm lý cầu an và ích kỷ…

Đất nước đương ở trạng thái xáo trộn, ngổn ngang của một bước ngoặt phát triển. Ngẫm về sự biến dịch của đất nước bằng “cái lẽ đời ẩn sâu trong các biến chuyển và đổi thay của cuộc đời và của thời đại” mà sự phân tích tinh tế của tác giả về cách nhìn của “khoa học mới” đã giúp tôi cảm nhận được. Tôi chia sẻ niềm hy vọng của Phan Đình Diệu: “…hy vọng đất nước ta sẽ luôn tạo được môi trường thuận lợi để bồi dưỡng và phát huy trong mỗi thành phần của xã hội cũng như cả toàn hệ thống mọi năng lực học tập, mọi ý thức năng động sáng tạo, mọi khả năng thích nghi và đổi mới, để trong mọi cơ hội tạo ra được những kết quả hợp trội “đồng tiến hoá trong đa dạng” của bản thân hệ thống, hoặc những ưu thế cạnh tranh trong hợp tác với bên ngoài, để sớm thực hiện được mục tiêu… vì “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” (tr. 391).



*


Viết bài báo này tôi làm công việc ghi chép của một người đọc sách, ghi lại những điều mình hiểu ra, chép lại những điều mình tâm đắc. Tôi mong được những độc giả khác chia sẻ những điều tâm đắc của họ khi đọc cuốn sách phong phú chủ đề và ý tưởng này. Riêng tôi đọc tuyển tập này mà phần lớn những bài được tuyển là của những học giả nước ngoài và những học giả người Việt hải ngoại, đôi khi có cảm tưởng đương đọc một công trình xuất bản ở nước ngoài, nhưng, không, nó được Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản quý II năm 2005, thêm một niềm vui khi thẩm đọc tuyển tập giàu hương sắc này.
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 18-08-2005, 07:25 PM   #4
EfesPilsener
Khách
 
Bài : n/a
Default

Hix, dài quá, pots hết lên 1 lần( copy& paste) cho mọi người đọc.
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 19-08-2005, 12:43 PM   #5
Cổ Nhuế
Phân cục trưởng cục Phân
 
Gia nhập: Jul 2005
Bài : 131
Default

Từ Đông sang Tây (*): một cuốn sách có giá trị

Nguyên Thanh (Paris)

Như những người chủ biên (Cao Huy Thuần, Nguyễn Tùng, Trần Hải Hạc, Vĩnh Sính) đã viết, cuốn sách Từ Đông sang Tây được thực hiện để bày tỏ sự cảm phục và quý trọng của những người tham gia đối với Giáo sư (GS) Lê Thành Khôi. Đây là một tập tục rất đẹp trong giới đại học ở phương Tây. Trong tiếng Pháp, một quyển sách như thế được gọi là mélanges (tạp văn) vì các bài đăng trong đó - chủ yếu có tính cách nghiên cứu hơn là ca ngợi (dù đối tượng rất đáng ca ngợi!) - đa dạng về đề tài cũng như cách viết, nhưng ít nhiều đều có liên quan đến các chuyên môn cũng như các chủ đề ưa thích của người được tặng.

Sinh ra trong một gia đình sĩ phu có truyền thống Nho giáo và Phật giáo, lại được theo học chương trình cổ điển Pháp ở Hà Nội cũng như học tiếng Việt và tiếng Trung Quốc ở trường Ngôn ngữ Ðông Phương (Paris), GS. Lê Thành Khôi đã sớm thấm nhuần sâu sắc cả hai nền văn hóa Ðông, Tây. Chẳng những thế, GS đã theo học các môn kinh tế, luật và “văn khoa” (lettres) ở Ðại học Paris, nên được đào tạo đa ngành rất vững chắc.

Trong gần 60 năm sống ở Pháp, GS. Lê Thành Khôi đã từng nghiên cứu, giảng dạy ở hơn 40 nước trên thế giới và đã xuất bản 42 cuốn sách về rất nhiều lĩnh vực: giáo dục, lịch sử, văn hóa, văn học, mỹ học, kinh tế... Trong số các tác phẩm của GS, có lẽ cuốn Le Viêt Nam, histoire et civilisation (Lịch sử và văn minh Việt Nam), do Minuit xuất bản năm 1955, có ảnh hưởng lớn nhất, đặc biệt về mặt chính trị: trong khoảng hai thập niên, quyển sách này đã đem lại cho nhiều trí thức, sinh viên và ngay cả chính giới phương Tây, đặc biệt ở Pháp và Mỹ, các dữ kiện và nhận định chính xác và nghiêm túc về lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Ðiều đáng ngạc nhiên là sau ngày về hưu, GS vẫn không ngừng viết và xuất bản, thậm chí còn nhiều và đa dạng hơn trước đó.

Trong những lần về thăm đất nước, GS đã bày tỏ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ý muốn góp phần xây dựng một bảo tàng mỹ thuật phương Đông ở Hà Nội và sẽ tặng cho bảo tàng này khoảng 800 hiện vật quý giá mà GS đã dày công thu thập ở Pháp và trong các chuyến công tác ở nhiều nước châu Á, châu Phi. Rất tiếc là cho đến nay, GS vẫn chưa nhận được trả lời chính thức.

Do GS. Lê Thành Khôi quan tâm đến nhiều lĩnh vực, tập sách chia thành bốn phần: Phần I (sử học) gồm các bài của Phan Huy Lê, Charles Fourniau, Alain Ruscio, Trịnh Văn Thảo, Pierre Brocheux, Daniel Hemery, Philippe Langlet, Vĩnh Sính, Nguyên Ngọc. Phần II (ngôn ngữ, văn học): Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Phú Phong, Nguyễn Huệ Chi, John Balaban, Đào Hữu Dũng. Phần III (kinh tế học): Vũ Quang Việt, Lê Thị Nam Trân, Trần Văn Thọ, Trần Hải Hạc. Phần IV (các ngành khoa học xã hội khác): Trần Văn Khê, Phan Đình Diệu, Bùi Văn Nam Sơn, Nguyễn Tùng, Cao Huy Thuần, Georges Condominas.

Trong một chứng từ ngắn, nhà dân tộc học người Pháp Georges Condominas, chuyên gia nổi tiếng về người M’nông, ca ngợi Lê Thành Khôi-nhà thơ-nhà văn: “Ở Lê Thành Khôi, tôi tìm thấy một phẩm chất mà ít nhà bác học có được: đó là sự nhạy cảm vô cùng tinh tế với chất thơ...”. Còn sử gia Charles Fourniau thì cho rằng các trước tác của GS. Lê Thành Khôi về lịch sử Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng trong công việc nghiên cứu của ông về thời kỳ thuộc địa ở Việt Nam.

GS. Phan Huy Lê nhận định: “GS. Lê Thành Khôi là một nhà sử học, một học giả uyên bác trên nhiều lĩnh vực, một nhà văn hóa lớn của đất nước. Những công trình nghiên cứu của anh vừa mang tính chuyên ngành sâu, vừa mang tính liên ngành cao. Trong 60 năm sống trên đất Paris, thủ đô nước Pháp, anh tiếp thu được biết bao nhiêu kiến thức hiện đại tại một trung tâm sôi động của văn minh phương Tây, nhưng trước sau anh vẫn là một con người Việt Nam với tấm lòng luôn luôn hướng về Việt Nam, với tâm hồn và phong cách thấm đượm cốt cách Việt Nam kết hợp với những giá trị văn hóa - khoa học Đông-Tây”.

(*) Sách do Nhà Xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 2005, dày 463 trang.

http://www.saigontimes.com.vn/tbkts...bao=764&sott=15



Đọc sách: Một tập Biên khảo giá trị

Vương Trí Nhàn

Năm 1990, với sự bảo trợ của Ban khoa học xã hội thành ủy TP. Hồ Chí Minh, Nước Ðại Nam đối diện Pháp và Trung Hoa (1847 -1885) của Y. Tsuboi được dịch và ấn hành.

Mấy năm sau đó, đến lượt Những vấn đề lịch sử Việt Nam của Stephen O' Harrow, Keith W. Taylor, A.B.Woodside và quyển Xứ Đàng Trong của Li Tana lại được in ra nhờ sự nỗ lực của Tạp chí Xưa & Nay và NXB Trẻ.

Từ bản thân mình mà suy, tôi muốn tin chắc là, trong tâm trí những người có để tâm nghiên cứu văn hoá lịch sử VN, mấy cuốn sách trên đã để lại những ấn tượng sâu đậm. Cũng là chuyện xứ mình đấy, mà sao dưới con mắt của người ta, nó lại hiện ra mới mẻ, và trong nhiều trường hợp là có sức thuyết phục, đồng thời lại gắn bó với thời sự đến vậy!

Trong tình hình ngành nghiên cứu lịch sử VN đang trì trệ, sự xuất hiện của những công trình đó quả thật là những thách thức. Nói cách khác, đó cũng là những gợi ý tốt, giúp cho những người có thiện chí, tìm cho mình một hướng suy nghĩ và làm việc đúng đắn.

Trong một mức độ tương tự, tôi dự đoán cuốn sách Từ Ðông sang Tây mà NXB Ðà Nẵng cho in và phát hành trong tháng bảy này cũng có thể có những hiệu quả tương tự.

Thứ nhất, cuốn sách cho chúng ta biết thêm về Lê Thành Khôi, một học giả Việt Nam đáng kính. Theo như cách nói của Phan Huy Lê thì đây là "một nhà lịch sử và văn hoá lớn của đất nước". Từ nhiều năm nay làm việc trong guồng máy khoa học Pháp và trong khi hoạt động trên một phạm vi hết sức rộng rãi, Lê Thành Khôi vẫn luôn luôn quan tâm đến các vấn đề của quê hương.
Trong sự bề bộn của trên 50 năm hoạt động, ông đã hai lần đi vào nghiên cứu tổng thể về lịch sử Việt Nam.

Năm 1955, ông viết Việt Nam, lịch sử và văn hoá ( năm 1969, đã có bản phỏng dịch sang tiếng Ðức). Và năm 1982, ông lại công bố Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến 1858. Khi nói về cuốn sách sau, nhà Việt Nam học nổi tiếng người Pháp là G. Condominas đã dùng tới những lời lẽ tốt đẹp nhất. Condominas bảo đó là một kiệt tác khiến ông bị lệ thuộc không dứt ra nổi.

Thứ hai, trên tinh thần hướng tới và đối thoại với Lê Thành Khôi, cuốn sách Từ Ðông sang Tây sơ bộ tập hợp một số công trình biên khảo về khoa học xã hội nhân văn đề tặng ông. Ba chục tác giả đang sống ở những quốc gia khác nhau, trong đó nhiều người đang giảng dạy tại các trường đại học ở Pháp , Mỹ, Nhật, Canada, Việt Nam nhân đây công bố những công trình nghiên cứu trên hàng loạt lĩnh vực khác nhau : sử học, ngôn ngữ học, kinh tế học, chính trị học, triết học.

Charles Fourniau trở lại với các vấn đề của nước VN thời thuộc địa. Vĩnh Sính giới thiệu một tác phẩm ít được biết tới của Phan Chu Trinh. Ðược sự gợi ý của các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam ở các trường đại học Mỹ, Nguyên Ngọc suy nghĩ về vai trò của những miền đất mới (ở đây là Quảng Nam thời kỳ Ðàng Trong) xem đó như bước đi độc đáo trên hành trình dân tộc. Nguyễn Tùng trở lại với một vấn đề tưởng như bé nhỏ nhưng cũng là một nhân tố phải tính tới khi tìm hiểu một cộng đồng, đó là câu chuyện đo lường ở Việt Nam.

Trước khi đi vào chuyên ngành lịch sử, Lê Thành Khôi đã bảo vệ luận án tiến sĩ về kinh tế học và về sau còn là giáo sư dạy các môn giáo dục so sánh , giáo dục và phát triển kinh tế và xã hội . Bởi vậy trong tập sách để vinh danh ông lần này, người ta bắt gặp cả những công trình đi vào nhiều vấn đề khác nhau, kể cả các vấn đề kinh tế.

Ðiều đáng nói là dù đề cập đến những vấn đề tưởng như xa lạ, song bao giờ các bài viết này cũng có liên hệ với tình hình đất nước, và đó là lý do chính đáng để chúng có mặt trong Từ Ðông sang Tây. Nhân câu chuyện khai sáng của Bùi Văn Nam Sơn, người đọc có thể suy nghĩ tiếp về trình độ phát triển tư tưởng ở ta. Cuối bài viết mang tên "Khái quát về lịch sử phát triển kinh tế thế giới: những yếu tố kìm hãm và thúc đẩy phát triển", Vũ Quang Việt có riêng một phần nói về kinh tế Việt Nam.

Còn nhớ vào khoảng đầu những năm chín mươi, khi nhận xét về sự biến chuyển của xã hội ta sau 1986, một nhà nghiên cứu người Úc đã khái quát : ở đây, tất cả đã thay đổi, trừ lịch sử.

Với sự xuất hiện của nhiều những bài báo có nội dung mới mẻ lâu nay đã in trên các tờ báo như Xưa & Nay, Nghiên cứu lịch sử, Tia sáng, và nay là những cuốn sách như Từ Ðông sang Tây, người ta thấy rằng nói thế không đúng nữa. Ngược lại từ đây thấy mở ra một vài định hướng cho nghiên cứu sử VN : 1) Ðó sẽ là sự tiếp cận liên ngành và đa ngành, sự chú ý đồng thời tới văn hoá nghệ thuật kinh tế lịch sử và 2) Ðó sẽ là công việc huy động được những đóng góp của nhiều nhà nghiên cứu ở cả trong lẫn ngoài nước, mỗi người trong họ làm việc theo những quy trình riêng, quan niệm riêng, chỗ mạnh chỗ yếu riêng và họ càng khác nhau thì càng có lợi cho hoạt động nghiên cứu nói chung.

Ðặt trong cái mạch phát triển của khoa nghiên cứu lịch sử hiện đại, lịch sử Việt Nam còn đang là mảnh đất hoang chưa biết bao giờ việc nghiên cứu mới tạm gọi là đạt đến mức độ cơ bản. Trong khi đó đối với tình hình phát triển của đất nước, thì việc khai thác những bài học của lịch sử ngày càng trở nên cấp bách.

Bởi vậy những cuốn sách như Từ Ðông sang Tây xứng đáng được nhiều người biết tới. Và đối với ai e ngại rằng đọc hơi khó, tôi muốn nói thêm xin cứ đọc đi, đằng sau cái khó có niềm hứng thú lớn lao đang chờ đợi bạn.

Tập sách Từ Đông Sang Tây: Tập Biên Khảo về Khoa học Xã hội và Nhân văn, do Cao Huy Thuần, Nguyễn Tùng, Trần Hải Hạc, Vĩnh Sính chủ biên. NXB Đà Nẵng ấn hành, 2005

Tóm tắt sự nghiệp ông Lê Thành Khôi

Sinh ngày 3.5.1923 tại Hà Nội. Sang Pháp năm 1947
Năm 1949, bảo vệ luận án tiến sĩ kinh tế học
Giảng dạy ở nhiều đại học, trong đó có ĐH Paris (Khoa Luật và Kinh tế học), ĐH Nanterre
Xuất bản 42 cuốn sách
Năm 2003, nhận huân chương Chevalier de l'ordre des Arts et des Lettres

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/ent...hanreview.shtml
Cổ Nhuế vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 20-08-2005, 05:03 AM   #6
Evil
Khách
 
Bài : n/a
Default

La vẫn bị bệnh thấy chỗ nào có nhiều chữ là nhảy cuồng cuồng, cong hết cả mông lên. Không hiểu sau này La có trở thành học giả hay suốt đời vẫn là độc giả cặm cụi trung thành của trăm thứ trường phái, lãnh vực trên đời.
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 20-08-2005, 07:27 AM   #7
A-tu-la
Đại úy
 
Gia nhập: Jan 2005
Bài : 837
Default

Vìu yêu nhất đời của em, bên Phật giáo có cái ẩn dụ về cái dây chuyền vàng. Nguời thì thấy nó, thốt lên: ồ vàng. Nguời khác trông thấy, bảo: ồ cái dây chuyền. Thế là Vìu hiểu ý em, Vìu nhỉ.
A-tu-la vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 20-08-2005, 01:04 PM   #8
cối đá
Khách
 
Bài : n/a
Default

Ở HN chưa có cuốn này đâu
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 20-08-2005, 01:15 PM   #9
glasgow
Xì cbn tin
 
glasgow's Avatar
 
Gia nhập: Jan 2005
Bài : 1,891
Default

Ở Hà Nội có rồi. Hôm qua vừa ra Nguyễn Xí, chúng bảo là đang hết.
glasgow vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 21-08-2005, 05:50 AM   #10
Fitts
Trung sĩ
 
Fitts's Avatar
 
Gia nhập: Jun 2005
Bài : 37
Default

Trích dẫn:
A-tu-la viết:
Vìu yêu nhất đời của em, bên Phật giáo có cái ẩn dụ về cái dây chuyền vàng. Nguời thì thấy nó, thốt lên: ồ vàng. Nguời khác trông thấy, bảo: ồ cái dây chuyền. Thế là Vìu hiểu ý em, Vìu nhỉ.


Hì hì, cu La kể chuyện mà cắt mất phần đuôi thế kia thì hỏng. Nhỉ?

Một thiền sư đi ngang, chẳng nói chẳng rằng, nhặt cành que khô khều cái dây chuyền vứt vào đống lửa. Độ mươi phút, sợi-dây-chuyền-có-màu-vàng chảy cụ nó ra thành nước.
Fitts vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 31-08-2005, 12:22 PM   #11
Thảo Nguyên
Đại úy
 
Gia nhập: Mar 2005
Bài : 754
Default

Thế là có nhưng hết hàng à, đang k biết mua ở đâu, hôm nọ ra Đinh Lễ, hỏi cả cuốn Ba cơ chế lẫn Từ Đông sang Tây, ai cũng bảo k biết.

Có cách nào mua sớm, mượn sớm, xin sớm (e-book nếu có) để 2/9 bị trông nhà tiện đọc luôn k nhỉ?
Thảo Nguyên vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 31-08-2005, 12:26 PM   #12
Cafeteria
học sinh giỏi xã
 
Cafeteria's Avatar
 
Gia nhập: Jan 2005
Bài : 2,544
Send a message via Yahoo to Cafeteria
Default

Trích dẫn:
Thảo Nguyên viết:
Thế là có nhưng hết hàng à, đang k biết mua ở đâu, hôm nọ ra Đinh Lễ, hỏi cả cuốn Ba cơ chế lẫn Từ Đông sang Tây, ai cũng bảo k biết.

Có cách nào mua sớm, mượn sớm, xin sớm (e-book nếu có) để 2/9 bị trông nhà tiện đọc luôn k nhỉ?

Có rồi đấy bác. 60k một cuốn Từ đông sang Tây.
__________________
We may be human...
But we're still animals.
Cafeteria vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 31-08-2005, 05:30 PM   #13
Thảo Nguyên
Đại úy
 
Gia nhập: Mar 2005
Bài : 754
Default

Thế là thế nào nhỉ, giá bìa là 85k, giá cô bán hàng bảo là 75k, cười hỏi sao giảm ít nhỉ, cô ấy bảo tại sách ít và chỉ lấy 72k.

Cảm ơn các bác thông báo sớm.
Thảo Nguyên vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 31-08-2005, 05:55 PM   #14
DINH HY
Khách
 
Bài : n/a
Default

Rõ là cafeteria khéo mặc cả vì như vậy giảm dến gần 40% còn Thảo Nguyên nên chuyển sang mua ở hàng khác đi. Mình mà mua chắc cũng tầm 60 - 65 k. Hôm trước bảo là hết là không đúng vì hôm đó cả phố Đinh Lễ đều nói là đã nhìn thấy mặt mũi quyển đó thế nào đâu.
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 31-08-2005, 11:25 PM   #15
cối đá
Khách
 
Bài : n/a
Default

Vừa lượn qua đinh lễ, tất cả các hàng đều hết. Hết chậm nhất là sáng nay. Hỏi, hàng nào cũng bảo có 2,3 người đặt trước.
Hay A tu la tuyên truyền làm Thanglongers phát cuồng hết lên nhỉ?
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 31-08-2005, 11:54 PM   #16
Đi Lang Thang
Trung sĩ
 
Đi Lang Thang's Avatar
 
Gia nhập: Jul 2005
Bài : 65
Default

Uầy, tớ mới lượn qua lúc 17h thấy còn bán đầy, lật xem cái "Lời giới thiệu" và "Mục lục" thấy cũng bình thường (hay do mình không thích thể loại í) nên quyết định không mua, hỏi qua giá thấy bảo 7 ọi.
__________________
Đé0 việc gì phải hoãn cái sự sung sướng lại!
Đi Lang Thang vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 01-09-2005, 11:55 AM   #17
Cafeteria
học sinh giỏi xã
 
Cafeteria's Avatar
 
Gia nhập: Jan 2005
Bài : 2,544
Send a message via Yahoo to Cafeteria
Default

Trích dẫn:
DINH HY viết:
Rõ là cafeteria khéo mặc cả vì như vậy giảm dến gần 40% còn Thảo Nguyên nên chuyển sang mua ở hàng khác đi. Mình mà mua chắc cũng tầm 60 - 65 k. Hôm trước bảo là hết là không đúng vì hôm đó cả phố Đinh Lễ đều nói là đã nhìn thấy mặt mũi quyển đó thế nào đâu.

Em quen mặt rồi nên mua không bao giờ phải mặc cả. Từ đông sang tây ở của hàng ngay đầu ngõ rẽ lên nhà bà Mão ý, Tên Hoa thì phải
__________________
We may be human...
But we're still animals.
Cafeteria vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 01-09-2005, 12:00 PM   #18
DINH HY
Khách
 
Bài : n/a
Default

Trích dẫn:
Cafeteria viết:
Em quen mặt rồi nên mua không bao giờ phải mặc cả. Từ đông sang tây ở của hàng ngay đầu ngõ rẽ lên nhà bà Mão ý, Tên Hoa thì phải

Mình cũng toàn mua của Hoa, nhiều khi cứ gọi điện báo trước hoặc dặn trước là khi nào có thì nhắn tin cho mình.
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 01-09-2005, 12:09 PM   #19
Thảo Nguyên
Đại úy
 
Gia nhập: Mar 2005
Bài : 754
Default

Mình thì hay mua ở 3 chỗ, đi bộ thì ở ngõ phía Tr,Tiền, nhà bà Hợi; hoặc sang kia leo lên bà Mão; nhưng cứ đi xe là lười, mua ngay chỗ Ng.Xí hôm qua. Thông thường chắc giá chênh nhau k bn đâu, chắc hôm qua trông cái mặt đã lạ còn vội vàng nên bị nạt, hôm qua còn thêm 2 cuốn cũng hơi dầy, k hiểu có bị quát k.

Nhưng, tri thức là vô giá cơ mà
Thảo Nguyên vẫn chưa có mặt trong diễn đàn    Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 01-09-2005, 03:56 PM   #20
DINH HY
Khách
 
Bài : n/a
Default

[QUOTE=Nhưng, tri thức là vô giá cơ mà [/QUOTE]

Thì đúng là như vậy. Nhưng là với trí thức được trả giá( lương) cao cơ còn với những người được trả giá thấp thì phần chênh lệch đấy có thể mua thêm 1 quyển nào đó rồi (Thảo Hảo chẳng hạn, chỉ 8k thôi)
   Top Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời


Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không có quyền gửi bài
Bạn không có quyền gửi trả lời
Bạn không có quyền gửi kèm file
Bạn không có quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt


Múi giờ GMT. Hiện tại là 12:25 AM.


Powered by: vBulletin
Copyright ©2000 - 2020, Jelsoft Enterprises Ltd.